Cầm cố tài sản đúng luật theo quy định của Bộ luật Dân sự
Cầm cố tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phổ biến trong các giao dịch dân sự và kinh tế. Về bản chất, đây là việc một bên (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực phục vụ cho việc thực hiện một nghĩa vụ nhất định. Việc hiểu rõ các quy định về hình thức, hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của các bên là cực kỳ quan trọng để tránh các tranh chấp phát sinh liên quan đến tài sản và tặng cho tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành.
Hình thức và hiệu lực của cầm cố tài sản
Hình thức hợp đồng cầm cố
Theo các quy định về giao dịch dân sự, việc cầm cố tài sản cần được thực hiện dưới hình thức văn bản. Các bên có thể lập một văn bản riêng biệt về việc cầm cố hoặc ghi nhận nội dung cầm cố trực tiếp vào trong hợp đồng chính (ví dụ: hợp đồng vay tài sản có điều khoản cầm cố).
Hiệu lực của cầm cố tài sản
Căn cứ Điều 310 Bộ luật Dân sự 2015, hiệu lực của việc cầm cố được xác định như sau:
- Hợp đồng cầm cố tài sản có giá trị pháp lý kể từ thời điểm các bên tiến hành giao kết, trừ khi các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác về thời điểm có hiệu lực.
- Đối với động sản, việc cầm cố có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố thực tế nắm giữ tài sản cầm cố. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của bên nhận cầm cố trước các quy định về người thứ ba ngay tình trong Bộ luật dân sự.
- Trong trường hợp đối tượng cầm cố là bất động sản (nếu pháp luật cho phép), việc cầm cố chỉ có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm thực hiện đăng ký theo quy định.
Thời hạn cầm cố
Thời hạn của việc cầm cố tài sản không bị giới hạn cứng nhắc bởi pháp luật mà do các bên tự thỏa thuận dựa trên nhu cầu thực tế. Trong trường hợp các bên không đưa ra một thời hạn cụ thể, việc cầm cố sẽ kéo dài cho đến khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố này chấm dụng.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cầm cố
Đối với bên cầm cố tài sản
Căn cứ Điều 311 Bộ luật Dân sự 2015, bên cầm cố có các nghĩa vụ trọng yếu sau:
- Phải bàn giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố đúng theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.
- Có trách nhiệm thông báo đầy đủ cho bên nhận cầm cố về bất kỳ quyền của người thứ ba nào đang tồn tại đối với tài sản cầm cố (nếu có). Nếu không thực hiện nghĩa vụ thông báo, bên nhận cầm cố có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, hoặc lựa chọn duy trì hợp đồng nhưng phải chấp nhận các quyền lợi từ người thứ ba đó.
- Thanh toán các chi phí hợp lý phát sinh nhằm mục đích bảo quản tài sản cầm cố, trừ khi các bên có thỏa thuận khác về việc bên nhận cầm cố tự chịu chi phí này.
Ngược lại, theo Điều 3ộng 312 Bộ luật Dân sự 2015, bên cầm cố có các quyền sau:
- Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản nếu việc sử dụng đó làm cho tài sản có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị nghiêm trọng.
- Yêu cầu trả lại tài sản cầm cố cùng các giấy tờ liên quan khi nghĩa vụ được bảo đảm đã được hoàn thành hoặc chấm dứt.
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên nhận cầm cố làm hư hỏng hoặc gây mất mát tài sản.
- Được quyền bán, thay thế, trao đổi hoặc tặng cho tài sản cầm cố nếu có sự đồng ý của bên nhận cầm cố hoặc theo các quy định khác của pháp luật.
Đối với bên nhận cầm cố tài sản
Căn cứ Điều 313 Bộ luật Dân sự 2015, bên nhận cầm cố phải tuân thủ nghiêm ngặt các nghĩa vụ:
- Có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố. Nếu để xảy ra tình trạng mất mát, thất lạc hoặc làm hư hỏng tài sản, bên nhận cầm cố phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.
- Không được tự ý bán, trao đổi, tặng cho hoặc sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm cho một nghĩa vụ khác ngoài phạm vi hợp đồng đã ký.
- Không được phép cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng hoặc hưởng các hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa hai bên.
- Có trách nhiệm hoàn trả lại tài sản và các giấy tờ kèm theo khi nghĩa vụ được bảo đảm đã chấm dứt hoặc khi biện pháp cầm cố được thay thế bằng một biện sử bảo đảm khác.
Bên nhận cầm cố cũng được hưởng các quyền tại Điều 314 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm:
- Yêu cầu người đang chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản cầm cố trái pháp luật phải trả lại tài sản.
- Được quyền xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận trước đó hoặc theo trình tự pháp luật quy định khi bên cầm cố vi phạm nghĩa vụ.
- Được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản nếu các bên có thỏa thuận cho phép.
- Được thanh toán các chi phí hợp lý để bảo quản tài sản khi thực hiện việc trả lại tài sản cho bên cầm cố.
Căn cứ chấm dứt việc cầm cố tài sản
Việc cầm cố tài sản sẽ kết thúc khi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 315 Bộ luật Dân sự 2015:
- Nghĩa vụ chính (nghĩa vụ được bảo đảm) đã được thực hiện xong hoặc chấm dứt theo pháp luật.
- Việc cầm cố tài sản được các bên thống nhất hủy bỏ hoặc được thay thế bằng một biện pháp bảo đảm khác phù hợp hơn.
- Tài sản cầm cố đã được xử lý để thanh toán nghĩa vụ (ví dụ: bán đấu giá tài sản để trả nợ).
- Các trường hợp chấm dứt khác theo thỏa thuận tự nguyện giữa bên cầm cố và bên nhận cầm cố.
Trong các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán sau khi xử lý tài sản, các bên có thể cần tham khảo thêm về thủ tục khởi kiện vụ án dân sự theo quy định pháp luật hiện hành để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.