📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Thông tưCòn hiệu lực

Thông tư số 91 TC/QLCS hướng dẫn thực hiện đền bù, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng phục vụ việc khôi phục quốc lộ i đoạn tp hồ chí minh đến nha trang

📄 Số hiệu: 91 TC/QLCS🏛️ Bộ Tài chính📅 06/12/1995

Thuộc tính văn bản

Số hiệu91 TC/QLCS
Loại văn bảnThông tư
NgànhTài chính
Cơ quan ban hànhBộ Tài chính
Người kýHồ Tế — Bộ trưởng Bộ Tài chính
Ngày ban hành06/12/1995
Ngày hiệu lực06/12/1995

Trích yếu nội dung

Thông tư số 91 TC/QLCS hướng dẫn thực hiện đền bù, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng phục vụ việc khôi phục quốc lộ i đoạn tp hồ chí minh đến nha trang

Nội dung toàn văn

BỘ TÀI CHÍNH

_____________

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________

Số: 91 TC/QLCS

Hà Nội ngày 06 tháng 12 năm 1995

THÔNG TƯ

Hướng dẫn thực hiện đền bù, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng phục vụ việc khôi phục quốc lộ I đoạn TP Hồ Chí Minh đến Nha Trang

______________

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 5139/KTN ngày 15/9/1995 của Văn phòng Chính phủ; Trên cơ sở ý kiến tham gia của các Bộ; ngành; Bộ Tài chính hướng dẫn việc đền bù, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng phục vụ việc khôi phục Quốc lộ I đoạn từ thành phố Hồ Chí Minh đến Nha trang như sau:

I/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐỀN BÙ, HỖ TRỢ

Tổ chức, cá nhân là người Việt nam trực tiếp quản lý và sử dụng đất, là chủ sở hữu của các tài sản hiện có trên đất, nay Nhà nước thu hồi đất để giải phóng mặt bằng phục vụ việc khôi phục Quốc lộ I đoạn từ TP Hồ Chí Minh đến Nha trang được Nhà nước xem xét việc đền bù thiệt hại hoặc trợ cấp phải là tổ chức, cá nhân thuộc diện được đền bù thiệt hại hoặc trợ cấp theo quy định tại Điều 2, Điều 3, Điều 4 Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

Đất và các tài sản hiện có trên đất khi Nhà nước thu hồi đất để giải phóng mặt bằng Quốc lộ I đoạn từ TP Hồ Chí Minh đến Nha trang được đền bù hoặc trợ cấp trong phạm vi:

Đất và tài sản trên đất nằm ngoài chỉ giới hành lang bảo vệ đường Quốc lộ I theo quy định tại Nghị định số 203-HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).

II/ ĐỀN BÙ THIỆT HẠI VỀ ĐẤT HOẶC TRỢ CẤP:

1/ Đối với đất sử dụng hợp pháp nằm ngoài phạm vi hành lang bảo vệ quốc lộ I, nay thu hồi để phục vụ việc khôi phục quốc lộ I:

Tổ chức, cá nhân sử dụng đất nằm ngoài phạm vi hành lang bảo vệ đường Quốc lộ I được Nhà nước giao đất hoặc sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993, có đủ điều kiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng từng loại đất theo quy định của Chính phủ hoặc có các giấy tờ chuyển nhượng, chuyển đổi hoặc thừa kế quyền sử dụng đất được UBND các cấp có thẩm quyền xác nhận sử dụng vào mục đích nào, thì nay Nhà nước thu hồi để phục vụ việc khôi phục Quốc lộ I được đền bù bằng cách giao đất có cùng mục đích sử dụng để thay thế hoặc đền bù bằng tiền theo giá đất có cùng mục đích sử dụng.

Trường hợp không thuộc diện được đền bù thì được Nhà nước hỗ trợ (trợ cấp) theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

a/ Đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp:

- Đất nông nghiệp, lâm nghiệp bị thu hồi thuộc phạm vi nền đường quốc lộ I mới mở được đền bù bằng đất cùng loại theo quy định tại mục 1 Điều 8 Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

- Đất nông nghiệp, lâm nghiệp thuộc dải lưu không đường quốc lộ I mới mở, nếu dùng phục vụ thi công hay đảm bảo an toàn giao thông thì được đền bù thiệt hại về hoa màu trên đất, không được đền bù về đất. Hết thời hạn xây dựng công trình, Ban quản lý dự án Quốc lộ I có trách nhiệm tái tạo lại đất và trả lại cho từng hộ dân bị mượn đất để họ tiếp tục canh tác. Trường hợp đặc biệt, đất này không trồng được cây ngắn ngày, cây thấp không ảnh hưởng đến tầm nhìn của xe, thì được xem xét cấp đất mới.

b/ Đối với đất khu dân cư:

- Nếu diện tích đất còn lại sau khi đã thu hồi vẫn đảm bảo đủ diện tích để ở, chủ hộ vẫn đồng ý ở lại trên phần diện tích còn lại thì không được đền bù bằng đất mới mà Nhà nức chỉ đền bù bằng tiền phần diện tích bị thu hồi.

- Nếu diện tích đất còn lại sau khi thu hồi không đủ để ở thì UBND xã, phường , thị trấn sở tại có trách nhiệm báo cáo UBND cấp huyện trình UBND tỉnh duyệt kế hoạch cấp đất ở để đền bù cho từng hộ gia đình đúng số diện tích đất đã bị thu hồi. Riêng đối với các đô thị, tuỳ khả năng quỹ đất của địa phương, UBND tỉnh thành phố quyết định mức đất đền bù cho mỗi hộ gia đình, nếu thiếu thì được đền bù bằng tiền. Phần diện tích đất còn lại sau khi bị thu hồi của các hộ được đền bù đất, UBND xã có trách nhiệm tổng hợp trình UBND tỉnh ra quyết định thu hồi và lên phương án quản lý sử dụng hợp lý, hiệu quả.

- Trường hợp diện tích đất đền bù có giá trị thấp hơn giá trị của diện tích đất bị thu hồi thì được Nhà nước đền bù bằng tiền phần chênh lệch đó. Trường hợp diện tích đất đền bù có giá trị cao hơn phần đất bị thu hồi thì Nhà nước chỉ đền bù phần diện tích đất có giá trị tương đương với giá trị của diện tích đất bị thu hồi, phần diện tích còn lại là đất cấp bổ sung, người được cấp đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định 89/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

- Trường hợp người được đền bù không nhận đất, thì được đền bù bằng tiền.

c/ Đất thu hồi:

Đất thu hồi được đền bù bằng đất có cùng mục đích sử dụng và được miễn nộp tiền sử dụng đất. Trường hợp đất để đền bù không cùng mục đích sử dụng của đất bị thu hồi, thì đất đền bù được phép chuyển mục đích sử dụng theo đúng mục đích sử dụng của đất bị thu hồi và người được đền bù đất được miễn nộp tiền sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng.

d/ Giá đất để tính đền bù thiệt hại về đất:

Áp dụng theo giá đất quy định cụ thể cho từng loại đất, hạng đất và vị trí đất do UBND cấp tỉnh ban hành theo quy định tại Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

e/ Quỹ đất dùng để đền bù đất bị thu hồi:

Quỹ đất dùng để đền bù thiệt hại theo quy định tại Điều 7 của Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

2/ Đối với đất sử dụng hợp pháp nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ quốc lộ I:

Căn cứ Điều 8 Nghị định số 203 - HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Mục 2 Phần I của Quyết định số 06-CT ngày 03/1/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đất bị thu hồi nằm trong phạm vi bảo vệ hành lang quốc lộ I được xem xét đền bù, hỗ trợ như sau:

- Đối với đất đã sử dụng hoặc có nhà cửa, công trình từ trước ngày 21/12/1982 thì thực hiện đền bù theo diện tích thực tế làm nhà ở và các công trình kiến trúc khác như quy định tại Khoản 1 Mục II trên đây. Phần diện tích đất còn lại được đền bù theo đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp như quy định tại Khoản 1 Mục II trên đây.

- Đối với đất có nhà cửa, công trình xây dựng sau ngày 21/12/1982, thì khi Nhà nước thu hồi đất không được đền bù về đất, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải tự di chuyển và tự lo chỗ ở mới. Riêng đối với các hộ gia đình, cá nhân thực sự có khó khăn, ngoài chỗ ở bị thu hồi không còn chỗ ở nào khác được các cấp chính quyền địa phương xác nhận, thì được xem xét cấp đất ở mới với mức diện tích tối thiểu phù hợp với thực tế ở địa phương và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định số 89/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

UBND các xã, phường, thị trấn sở tại có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo UBND cấp huyện lên phương án trình UBND cấp tỉnh cấp đất ở mới trong quỹ đất nói tại Điểm e Khoản 1 Mục II nói trên.

3/ Đất sử dụng bất hợp pháp:

Khi Nhà nước thu hồi thì người sử dụng đất này không được đền bù thiệt hại về đất và tài sản và phải chịu mọi chi phí tháo dỡ, giải phóng mặt bằng theo yêu cầu của Nhà nước, theo quy định tại Điều 10 của Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

III/ ĐỀN BÙ, HỖ TRỢ THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT:

1/ Đền bù, hỗ trợ thiệt hại về nhà cửa, vật kiến trúc: (Kể cả vật kiến trúc phục vụ cho từng ngôi nhà)

a/ Đền bù, thiệt hại đối với nhà cửa, vật kiến trúc được coi là xây dựng hợp pháp:

Nhà cửa vật kiến trúc (sau đây gọi tắt là công trình) có đủ một trong các điều kiện sau đây được coi là hợp pháp:

- Xây dựng trước thời điểm ban hành Nghị định 203-HĐBT ngày 21/12/1982 trên đất hợp pháp và có giấy phép xây dựng (đối với đất đô thị) hoặc có xác nhận của Chính quyền địa phương (đối với đất nông thôn) là công trình đang sử dụng ổn định không có tranh chấp.

- Xây dựng sau khi có Nghị định 203-HĐBT ngày 21/12/1982 trên đất hợp pháp thuộc phạm vi ngoài hành lang bảo vệ Quốc lộ I và có giấy phép xây dựng (đối với đô thị) hoặc có xác nhận của Chính quyền địa phương (đối với vùng nông thôn) là công trình đang sử dụng ổn định, không có tranh chấp.

a-1/ Đối với công trình bị phá dỡ, di chuyển toàn phần:

Công trình được xác định là hợp pháp được đền bù tài sản bằng giá trị hiện có của công trình bị phá dỡ. Mức đền bù được xác định theo công thức:

Mức đền bù = Diện tích sử dụng của công trình bị phá dỡ X Đơn giá xây dựng mới do UBND cấp tỉnh ban hành theo quy định của Nhà nước X Tỷ lệ chất lượng còn lại của công trình bị phá dỡ.

Trường hợp địa phương chưa quy định bảng giá chuẩn xây dựng nhà ở mới có thể áp dụng bảng giá chuẩn tối thiểu xây dựng nhà ở xây dựng mới tại phụ lục số 1 Ban hành kèm theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chínhphủ.

Xác định tỷ lệ chất lượng còn lại của công trình được áp dụng theo Thông tư liên bộ số 13/LB - TT ngày 18/8/1994 của Liên Bộ Xây dựng - Tài chính - Vật giá Chính phủ.

Trường hợp giá trị còn lại của nhà và các công trình phụ trợ quá thấp, mức đền bù không đủ xây dựng nhà mới có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương ngôi nhà đã phá dỡ thì hộ gia đình có thể được đền bù thêm, nhưng tổng mức đền bù không vượt quá giá xây dựng mới theo mức giá chuẩn do địa phương ban hành của ngôi nhà cùng tiêu chuẩn kỹ thuật.

Đối với công trình có thể tháo rời và di chuyển đến chỗ ở mới để lắp đặt thì chỉ được đền bù chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặtvà chi phí vật tư bị hao hụt, hư hỏng trong quá trình tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt. Mức đền bù tối đa không vượt quá 10% mức giá chuẩn của công trình cùng tiêu chuẩn, cùng kỹ thuật do UBND cấp tỉnh ban hành.

a-2/ Đối với công trình bị cắt xén một phần:

Diện tích để tính đền bù được xác định như sau:

- Công trình bị cắt xén một phần nhưng vẫn an toàn và đảm bảo tồn tại toàn bộ bộ phận còn lại của công trình thì được đền bù theo diện tích công trình bị cắt xén, phá dỡ.

- Công trình bị cắt xén một phần và được xác định ảnh hưởng đến an toàn của công trình, với mức độ khác nhau thì diện tích được tính đến bù là:

+ Diện tích của một hay nhiều đơn nguyên hoặc gian nhà không thể tồn tại được.

+ Diện tích cả công trình, nếu toàn bộ công trình không tồn tại được.

Cách tính mức đền bù tương tự như tại Điểm a Khoản 1 Mục III nói trên.

b/ Hỗ trợ đối với nhà cửa, vật kiến trúc chưa được coi là xây dựng hợp pháp trong hành lang bảo vệ Quốc lộ I:

Nhà cửa, vật kiến trúc xây dựng chưa được coi là hợp pháp về nguyên tắc là không được đền bù mà Nhà nước chỉ xem xét hỗ trợ một phần tuỳ theo mức độ, tính chất hợp pháp đất và các công trình trên đất, mức cụ thể như sau:

b-1/ Đối với nông thôn:

Nhà cửa, vật kiến trúc xây dựng trong hành lang bảo vệ Quốc lộ I, sau ngày 21/12/1982 và các trường hợp chưa có giấy tờ hợp lệ khác nhưng được UBND xã chứng nhận là không có tranh chấp, thì được xem xét hỗ trợ như sau:

+ Công trình xây dựng trên đất sau ngày 21/12/1982 đến trước khi ban hành Luật Đất đai ngày 29/12/1987 được trợ cấp 70% mức đền bù của công trình xây dựng hợp pháp có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật.

+ Công trình xây dựng trên đất sử dụng từ ngày 30/12/1987 đến trước ngày ban hành Luật Đất đai 15/10/1993 được trợ cấp bằng 60% mức đền bù của công trình xây dựng hợp pháp có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật.

+ Công trình xây dựng trên đất sử dụng sau ngày 15/10/1993 thì không được đền bù, trợ cấp mà người có công trình phải tự tháo dỡ.

b-2/ Đối với đô thị:

Căn cứ Điều 10-3c và Điều 11-2d của Nghị định 60/CP ngày 05/7/1994 và Công văn số 647/CV-ĐC ngày 31/5/1995 của Tổng cục Địa chính về các giấy tờ hợp lệ về đất và Nghị định 203 - HĐBT ngày 21/12/1982 quy định:

+ Công trình xây dựng không có giấy phép sau ngày 21/12/1982 có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất, nhưng nhà và đất ở phù hợp với quy hoạch, được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là không có tranh chấp, thì được trợ cấp 60% mức đền bù của công trình hợp pháp có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật.

+ Công trình xây dựng không có giấy phép xây dựng trên đất sử dụng trước ngày 15/10/1993 không có giấy tờ hợp lệ nhưng phù hợp với quy hoạch, có giấy xác nhận của UBND xã, phường là không có tranh chấp, thì được trợ cấp bằng 50% mức đền bù của công trình xây dựng hợp pháp có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật.

+ Công trình xây dựng trong lộ giới bảo vệ hành lang an toàn giao thông đã cắm, trong quy hoạch đã được thông báo trước khi xây dựng mà vẫn xây dựng thì không được đền bù, trợ cấp và phải tự dỡ bỏ.

Mức đền bù của công trình xây dựng hợp pháp có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật để tính mức hỗ trợ theo quy định ở Điểm b Khoản 1 Mục III được xác định theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Mục III này.

2/ Đền bù về hoa màu và di chuyển mồ mả, di tích lịch sử, nhà thờ, đình, chùa, nghĩa trang liệt sỹ và các tài sản khác:

Thực hiện đúng theo quy định tại Điều 13 và Mục 1 - Điều 12 Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

IV - TRỢ CẤP DI CHUYỂN

Mỗi hộ gia đình phải di chuyển hẳn chỗ ở thuộc đối tượng được đền bù đất và tài sản sẽ được trợ cấp di chuyển để ổn định đời sống theo mức quy định như sau:

- Nông thôn: 500.000đ

- Vùng đông dân, buôn bán tập trung đang hình thành đô thị: 630.000đ

- Đô thị loại 5: 750.000đ

- Đô thị loại 4: 870.000đ

- Đô thị loại 3: 1.000.000đ

- Đô thi loại 2: 1.120.000đ

- Đô thị loại 1: 1.250.000đ

Các hộ bị cắt xén một phần nhà đang sử dụng được trợ cấp để ổn định đời sống bằng 50% mức quy định cho các hộ phải di chuyển hẳn nói trên.

V/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố từ thành phố Hồ Chí Minh đến Nha Trang có trách nhiệm chỉ đạo và thực hiện đền bù theo đúng quy định tại Thông tư này. Việc xét duyệt tổ chức thực hiện đền bù theo trình tự quy định tại Chương IV Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ.

Ban Quản lý dự án Quốc lộ I có trách nhiệm tổ chức việc thanh toán trực tiếp cho từng tổ chức hộ gia đình và cá nhân theo đúng phương án đã được Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt.

Sở Tài chính - Vật giá các tỉnh, thành phố từ thành phố Hồ Chí Minh đến Nha Trang có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp xác định giá đất, giá trị tài sản vv... thực hiện đền bù, kiểm tra giám sát và hướng dẫn việc thực hiện đền bù ở địa phương mình. Cục thuế các tỉnh thành phố từ thành phố Hồ Chí Minh đến Nha Trang có trách nhiệm thu tiền sử dụng đất theo đúng quy định Nghị định 89CP và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính (Cục Quản lý công sản) có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện đền bù đất, tài sản trên đất của các địa phương và Ban quản lý dự án Quốc lộ I.

Người được đền bù phải được trực tiếp nhận đền bù. Mọi hiện tượng đền bù thông qua bất kỳ tổ chức nào sau đó mới phân bổ cho từng hộ gia đình, cá nhân đều vi phạm Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ và bị xử lý theo Pháp luật.

Thông tư này áp dụng cho việc đền bù đất và tài sản trên đất do giải phóng mặt bằng phục vụ việc xây dựng Quốc lộ I đoạn từ thành phố Hồ Chí Minh đến Nha Trang. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, các địa phương, đơn vị cơ sở phản ánh về Bộ Tài chính để xem xét giải quyết./.

Nơi nhận:

- Phó TT Trần Đức Lương (để b.c)

- Văn phòng Chính phủ;

- Bộ Giao thông vận tải;

- UBND các tỉnh: Khánh hoà, Ninh thuận, Bình thuận, Đồng nai, Sông bé, TP HCM;

- Sở Tài chính - Vật giá các tỉnh: Khánh hoà, Ninh thuận, Bình thuận, Đồng nai, Sông bé, TP HCM;

- Ban quản lý dự án quốc lộ I;

- Ban giải phóng mặt bằng Quốc lộ I;

- Bộ kế hoạch và đầu tư;

- Bộ Xây dựng;

- Ban Vật giá Chính phủ;

- Tổng cục địa chính;

- Lưu: VP Bô TC, Cục QLCS, Tổng cục ĐTPT

BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH

(Đã ký)

Hồ Tế

Lược đồ văn bản

Tải về & chia sẻ

📘Tải file gốc (.doc)91_TC.QLCS.doc · 190 KB
Chia sẻ:

Văn bản liên quan

Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật

Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.

Tra cứu văn bản