📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Thông tưCòn hiệu lực

Thông tư số 18 TC/ NHKT Về việc tăng cường quản lý vốn xây dựng cơ bản trong các tháng cuối năm

📄 Số hiệu: 18 TC/ NHKT🏛️ Bộ Tài chính📅 28/09/1974

Thuộc tính văn bản

Số hiệu18 TC/ NHKT
Loại văn bảnThông tư
NgànhLao động - Thương binh và Xã hội
Cơ quan ban hànhBộ Tài chính
Người kýÐào Thiện Thi
Ngày ban hành28/09/1974
Ngày hiệu lực28/09/1974

Trích yếu nội dung

Thông tư số 18 TC/ NHKT Về việc tăng cường quản lý vốn xây dựng cơ bản trong các tháng cuối năm

Nội dung toàn văn

BỘ TÀI CHÍNH

Số: 18 TC/ NHKT

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - tự do - hạnh phúc

------------------------------

Hà nội ngày 28 tháng 9 năm 1974

THÔNG TƯ

VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỐN XÂY DỰNG CƠ BẢN TRONG

CÁC THÁNG CUỐI NĂM

Để hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1974 và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1975 và nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc theo nghị quyết 22 của Trung ương Đảng, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban hành chính Tỉnh và thành phố (dưới đây gọi chung là Bộ và địa phương) đang tăng cường quản lý vốn xây dựng cơ bản trong các tháng cuối năm.

Đối với kế hoạch xây dựng cơ bản năm 1974 cần tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh tốc độ thi công trong các tháng mùa khô, tập trung vào các mục tiêu xây dựng quan trọng phục vụ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tài và các công trình đời sống nhân dân, dành ưu tiên mọi mặt đặc biệt là vật tư cho các công trình có tính chất sản xuất, nhất là các công trình trọng điểm, các công trình sắp hoàn thành để đưa nhanh vào sản xuất và cho các công trình dân dụng ở các khu vực sản xuất hoàn thành nhịp nhàng với các công trình sản xuất.

Đối với kế hoạch xây dựng cơ bản năm 1975, cần cố gắng làm đầy đủ trong quý IV/1974 các việc chuẩn bị cần thiết để đến quý I/1975 có thể thi công liên tục các công trình chuyển tiếp và khởi công đúng thời hạn các công trình mới. Đối với các công trình chuyển tiếp là trọng điểm, thường được đảm bảo cung ứng đủ số vật tư cần thiết, cần lập ngay kế hoạch thi công quý I/1975 mặc dầu kế hoạch đầu tư chính thức chưa được duyệt để chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện vật chất về vật tư, lao động, tiền vốn, đảm bảo tốc độ thi công không mất liên tục hay bị giảm sút và các mặt quản lý không bị buông lỏng. Đối với các công trình phải khởi công trong quý I/1975 theo số kiểm tra kế hoạch 1975, cũng cần làm ngay các việc chuẩn bị ban đầu (xác định địa điểm lập thiết kế, lập dự toán chuẩn bị vật liệu, chuẩn bị lực lượng thi công...) không đợi kế hoạch đầu tư chính thức được duyệt mới bắt đầu làm.

Riêng về quản lý vốn, Bộ Tài chính đề nghị các Bộ và các địa phương tập trung sự chỉ đạo chủ yếu vào mấy vấn đề sau đây:

I- ĐẨY MẠNH VIỆC THANH TOÁN KHỐI LƯỢNG CÔNG TRÌNH HOÀN THÀNH, CHỐNG MAN KHAI, LÀM DỐI, LÀM ẨU, CHẠY VỐN, BÁO CÁO THÀNH TÍCH DỐI TRÁ VỀ HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH.

a) Đi đôi với việc chỉ đạo hoàn thành kế hoạch đầu tư và kế hoạch thi công một cách toàn diện, các Bộ và địa phương cần đôn đốc và giúp đỡ các đơn vị kiến thiết và đơn vị thi công thanh toán kịp thời các khối lượng công trình hoàn thành, đảm bảo thanh toán trước ngày 31/12/1974 các khối lượng làm xong trong năm 1974 (về xây lắp, thiết bị, xây dựng cơ bản khác), chỉ trừ phần khối lượng hoàn thành trong 10 hoặc 15 ngày cuối năm thì chuyển sang thanh toán vào đầu năm 1975 theo chế độ quy định.

Ngân hàng kiến thiết trung ương phải chỉ đạo các Chi hàng kiến thiết thúc đẩy các đơn vị thanh toán đúng thời hạn và đứng làm trung tâm giúp đỡ các đơn vị giải quyết các khó khăn vướng mắc hoặc đề xuất vấn đề lên cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Đối với các công trình còn khối lượng hoàn thành để chậm chưa thanh toán, các đơn vị A, B và Chi hàng kiến thiết phải có kế hoạch giải quyết xong càng sớm càng tốt ngay từ trong tháng 10, tránh dồn việc thanh toán các khối lượng thanh toán chậm của các tháng trước vào tháng 12, gây khó khăn cho việc cân đối thu chi ngân sách trong tháng cuối năm. Nếu có khối lượng chưa thanh toán được vì chưa có dự toán được duyệt thì thanh toán ngay theo dự thảo dự toán đã thẩm tra hay theo giá tạm ước tính giữa A, B và Chi hàng, khi có dự toán được duyệt sẽ điều chỉnh lại. Nếu có khốn lượng chưa thanh toán được vì tổng mức đầu tư cần thiết cho công trình vượt số vốn cho phép trong nhiệm vụ thiết kế thì A, B và Chi hàng phải báo cáo ngay lên cấp trên của mỗi bên để có biện pháp giải quyết sớm.

b) Đi đôi với việc đôn đốc hoàn thành kế hoạch và thanh toán vốn đầu tư, các Bộ và địa phương cần tăng cường chỉ đạo và kiểm tra, nghiêm cấm mọi hành vi khai man khối lượng hoàn thành, làm dối, làm ẩu, để tranh thủ chi hết vốn trong năm, chạy vốn hoặc báo cáo thành tích dối trá về hoàn thành kế hoạch, và có thái độ xử lý nghiêm khắc và kịp thời các trường hợp vi phạm (kỷ luật hành chính đối với cá nhân, không xét khen thưởng đối với đơn vị, v.v...)

Các Chi hàng kiến thiết phải đặc biệt tăng cường việc kiểm tra tại chỗ trong các tháng cuối năm để triệt để ngăn ngừa tình trạng man khai, làm dối, làm ẩu;cần chú ý đối với các nông trường, lâm trường, công trình giao thông, thuỷ lợi, kho tàng v.v... làm phân tán ở các nơi và các việc đặt gia công chế tạo hay sửa chữa thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải. Mỗi khi phát hiện, cần lập biên bản và xử lý một cách kiên quyết theo thông tư số 10 /TTg ngày 29/1/1965 của Thủ tướng Chính phủ (phạt 3% khối lượng khai man, trừ bớt tiền hay bắt sửa chữa đối với khối lượng làm dối, làm ẩu...) rồi báo cáo về các cơ quan chủ quản cấp trên (Bộ, Tổng cục, Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố...) và về Bộ Tài chính để xét việc xử lý về các mặt kỷ luật hành chính, khen thưởng hoàn thành kế hoạch, kể cả đối với các xí nghiệp sản xuất trong trường hợp thông đồng với các đơn vị kiến thiết lập hoá đơn giả để thu trước tiền thiết bị, sửa chữa, gia công...

Các chi hàng tuyệt đối không được cho phép một đơn vị nào "trích chi" vào dịp cuối năm kể cả các đơn vị thuộc vốn ngân sách trung ương trợ cấp cho các địa phương và phải kiểm tra chặt chẽ chống mọi hiện tượng chạy vốn.

II- CHUẨN BỊ VẬT LIỆU CHO KẾ HOẠCH THI CÔNG QUÝ I/1975.

Các Bộ và địa phương cần chỉ đạo các đơn vị dự trữ đủ vật liệu (nhất là vật liệu chủ yếu) cho việc thi công trong quý I/1975 đối với các công trình trọng điểm, các công trỉnh dở dang còn chuyển tiếp và các công trình mới phải khởi công. Đối với các công trình trọng điểm, các Bộ và địa phương cần kiểm tra chặt chẽ để đảm bảo vật liệu phân phối ưu tiên cho các công trình trọng điểm không sử dụng cho các công trình khác. Đối với các công trình chuyển tiếp, cần tránh tình trạng chỉ dồn sức lo vật liệu cho việc thi cộng trong quý IV/1974, sang tháng 1/1975 lớn hơn quý IV/1974 thì phải tăng thêm mức dự trữ vật liệu.

Các chi hàng kiến thiết phải quan tâm giúp đỡ các đơn vị chuẩn bị vật liệu cho quý I/1975. Trong điều kiện vật tư có hạn, các chi hàng phải cho các đơn vị trọng điểm vay vốn để dự trữ đủ số vật liệu được Nhà nước phân phối; đối với các công trình khác thì Chi hàng phải cùng các đơn vị tính toán chặt chẽ mức dự trữ cần thiết đối với từng thứ vật liệu không cho đơn vị vay vốn để dự trữ thứ thì quá thừa hay quá sớm thứ thì quá thiếu hay quá muộn. Mặt khác các Chi hàng phải thường kỳ kiểm tra tình hình vật liệu tồn kho của các đơn vị (kiểm tra tại chỗ hay qua báo biểu kế toán hàng tháng), tồn kho giảm đến đâu thì thu hồi vốn cho vay đến đấy, không để đơn vị dùng vốn thừa để dự trữ không đồng bộ hay quá mức cần thiết. Đối với các đơn vị có vật tư ứ đọng, các Chi hàng cần đôn đốc và giúp đỡ giải quyết.

III- MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG BẰNG VỐN TRỢ CẤP CỦA NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG.

Đối với phần vốn trợ cấp của ngân sách trung ương cho từng công trình xây dựng cơ bản cụ thể, các địa phương phải đảm bảo vốn của công trình nào chỉ sử dụng cho công trình ấy. Các Chi hàng kiến thiết không được cấp phát quá mức vốn trợ cấp cho từng công trình hay cấp phát vốn trợ cấp cho các công trình không phải là đối tượng được trợ cấp. Các địa phương muốn điều hoà vốn giữa các công trình thuộc vốn trợ cấp hay để làm thêm công trình khác trong năm cũng như vào lúc cuối năm phải được Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Tài chính đồng ý trước.

Đối với các công trình xây dựng dở dang bằng vốn trợ cấp phải chuyển sang tiếp tục thi công trong năm sau, Bộ Tài chính đảm bảo trợ cấp thểm đủ số vốn cần thiết để xây dựng nốt trong năm sau. Như vậy các địa phương cần ghi vào kế hoạch khối lượng, tài vụ và ngân sách năm sau đủ số vốn cần thiết đó, chứ không tìm cách rút trước số vốn này từ ngân sách năm trước. Các Chi hàng kiến thiết phải giúp đỡ các địa phương xác định số khối lượng cần ghi vào kế hoạch và ngân sách năm sau, và sang những ngày đầu năm sau nếu vốn trợ cấp chuyển về chậm thì xét cho các đơn vị thi công vay vốn tạm thời để thi công liên tục.

IV- XÁC ĐỊNH SỐ VỐN KẾT DƯ VỀ THIẾT BỊ ĐỂ GHI VÀO KẾ HOẠCH THU CHI TÀI VỤ NĂM SAU CỦA ĐƠN VỊ KIẾN THIẾT.

Đối với các công trình có vốn đầu tư về thiết bị, ngân sách thường phải cấp vốn cho các đơn vị kiến thiết để chuẩn bị thiết bị cho việc lắp đặt. Đến ngày cuối năm các đơn vị kiến thiết phải xác định số vốn chuẩn bị đối với phần thiết bị còn chưa đưa vào lắp đặt để chuyển sang năm sau. Số vốn chuyển sang năm sau về thiết bị (vốn kết dư về thiết bị) này phải ghi vào kế hoạch thu chi tài vụ năm sau của đơn vị kiến thiết.

Những ngày đầu năm 1975, các Bộ và địa phương cần chỉ đạo các đơn vị kiến thiết của các công trình có vốn đầu tư lớn về thiết bị làm thật tốt việc xác định số vốn kết dư thực tế này qua tài liệu kế toán và qua tài liệu kiểm kê tài sản ngày cuối năm (nếu có sự chênh lệch giữa hai tài liệu này thì làm biên bản gửi cơ quan chủ quản cấp trên giải quyết với cơ quan tài chính).

V- ĐẨY MẠNH THANH TOÁN NỢ NẦN VÀ THU NỘP NGÂN SÁCH.

Hiện nay, trong khu vực quốc doanh, có tình hình nợ nần dây dưa, chiếm dụng vốn lẫn nhau kha phổ biến.

Để tình hình tài vụ trong khu vực xây dựng cơ bản được lành mạnh, các đơn vị kiến thiết và đơn vị thi công phải đẩy mạnh việc thanh toán các khoản nợ phải thu cũng như phải trả. Riêng đối với ngân sách, các xí nghiệp xây lắp, nông trường, lâm trường và xí nghiệp khác phải thực hiện đầy đủ chế độ về việc trích nộp khấu hao cơ bản và lợi nhuận.

Các Chi hàng kiến thiết phải làm tốt chức năng trung tâm thanh toán để giải quyết nợ nần giữa các đơn vị với nhau và giữa các đơn vị và ngân sách; đi sâu tìm hiểu nguồn gốc của các số dư lâu ngày không dùng đến trong các tài khoản tiền gửi để nghiên cứu khả năng thu nộp cho ngân sách và giảm dư nợ vay của Ngân hàng kiến thiết; đồng thời chú ý tăng cường quản lý đối với các việc chuyển tiền và các việc chi tiêu tiền mặt vào lúc cuối năm.

VI- THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUYẾT TOÁN ĐÚNG THỜI HẠN QUY ĐỊNH.

1/ Các đơn vị kiến thiết giao thầu và tự làm phải làm xong quyết toán của các công trình hoàn thành đúng trong thời hạn 45 ngày. Muốn vậy, ngay từ khi công trình sắp hoàn thành, đơn vị đã phải khẩn trương tiến hành dần các việc thanh toán nợ nần và thanh lý tài sản. Các Chi hàng kiến thiết phải đôn đốc và giúp đỡ các đơn vị kiên thiết lập quyết toán công trình hoàn thành đúng thời hạn và phải có văn bản xác định số vốn đầu tư đã cấp phát cho công trình và nhận xét tình hình quản lý của đơn vị để đơn vị gửi kèm vào quyết toán lên cơ quan chủ quản cấp trên.

2/ Đối với các công trình chưa hoàn thành, các đơn vị kiến thiết giao thầu và tự làm phải quyết toán số vốn đầu tư được cấp phát trong năm trước ngày 10/1 năm sau. Các Chi hàng kiến thiết phải kịp thời cùng đơn vị đối chiếu số vốn đầu tư đã cấp phát và lập phieéu đối chiếu để đơn vị kèm một bản vào quyết toán gửi lên cơ quản chủ quản cấp trên.

3/ Các xí nghiệp xây lắp cũng phải quyết toán toàn bộ tình hình hoạt động tài vụ trong năm, trước ngày 30/1 năm sau phân tích sâu sắc tình hình hoạt động kinh tế về các mặt thực hiện mục tiêu hiện vật, năng suất, giá thành, tài vụ... và đúc rút kinh nghiệm cho năm sau.

4/ Các Chi hàng kiến thiết phải quyết toán tình hình cấp phát vốn đầu tư cả năm trước ngày 28/2/1975 và Ngân hàng kiến thiết trung ương phải quyết toán tình hình cấp phát vốn đầu tư trong toàn quốc trước ngày 31/3/1975.

VII- THÔNG BÁO KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CỦA TỪNG CÔNG TRÌNH.

1/ Đối với kế hoạch đầu tư năm 1974, Ngân hàng kiến thiết trung ương sẽ chỉ nhận thông báo các việc bổ sung hay sửa đổi kế hoạch đầu tư của từng công trình cho các Chi hàng kiến thiết bằng đường thư của các cơ quan bưu định tới hết ngày 20/12/1974; từ ngày 21/12/1974 sẽ chỉ giải quyết bằng thông báo điện báo hay thông báo giao người cầm tay chuyển xuống đối với các trường hợp đặc biệt cần thiết.

Đến cuối ngày 31/12/1974, Ngân hàng kiến thiết trung ương và tất cả các Chi hàng kiến thiết sẽ khoá sổ sách.

2/ Đối với kế hoạch đầu tư năm 1975, các Bộ và các địa phương phải thông báo kịp thời cho các công trình mới hay công trình chuyển tiéep phải thi công ngay từ đầu quý I/1975. Nếu đến đầu tháng 1/1975 mà chưa nhận được thông báo kế hoạch thì chi hàng kiến thiết có thể cho đơn vị thi công (kể cả các đơn vị kiến thiết tự làm) vay vốn tạm thời (chứ không cho đơn vị kiến thiết vay) để tiếp tục thi công các công trình chuyển tiếp. Đối với việc khởi công công trình mới thì chỉ cho vay đối với các công trình cấp bách nếu được Ngân hàng kiến thiết trung ương đồng ý và phải được Sở, Ty tài chính địa phương đồng ý nếu là công trình thuộc vốn "tự có" của ngân sách địa phương.

VIII- GIỜ MỞ CỬA CỦA NGÂN HÀNG KIẾN THIẾT TRUNG ƯƠNG VÀ CÁC CHI HÀNG KIẾN THIẾT TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI NĂM.

Ngân hàng kiến thiết trung ương và các Chi hàng kiến thiết phải mở cửa bình thường trong tất cả các ngày không phải là chủ nhật hay ngày lễ cho đến hết ngày 31/12/1974 để giải quyết tất cả các việc cấp phát cho vay, thanh toán và giao dịch khác. Riêng ngày 31/12/1974 tất cả các Chi hàng phải tổ chức bộ phận thường trực giải quyết cho xong mọi việc kể cả việc điện báo cáo lên Ngân hàng kiến thiết trung ương.

Bộ Tài chính đề nghị các Bộ và địa phương phổ biến thông tư này cho tất cả các đơn vị kiến thiết và xí nghiệp xây lắp và mong rằng các Bộ, địa phương, đơn vị và ngành Ngân hàng kiến thiết tổ chức thực hiện tốt những quy định trong thông tư này để tăng cường quản lý vốn xây dựng cơ bản, thúc đẩy hoàn thành kế hoạch và nâng cao hiệu quả kinh tế của các công trình.

Trong việc thực hiện, có vấn đề gì cần giải quyết tiếp, đề nghị phản ánh cho Bộ Tài chính biết.

Q. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH

Đào Thiện Thi.

NƠI NHẬN:

- VP PTT để báo cáo

- Các Bộ, các cơ quan ngang Bộ

cơ quan trực thuộc HĐCP

- Các UBHC Tỉnh và Thành phố

- Các sở ty tài chính

- NHKT TW và các chi hàng Kiến thiết.

Lược đồ văn bản

ℹ️ Lược đồ thể hiện mối quan hệ của văn bản này với các văn bản khác (hướng dẫn, sửa đổi, thay thế, căn cứ...). Dữ liệu quan hệ của văn bản này đang được cập nhật.

Tải về & chia sẻ

📘Tải file gốc (.doc)18_TC__NHKT.doc · 123 KB
Chia sẻ:

Văn bản liên quan

Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật

Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.

Tra cứu văn bản