Thông tư số 11 TC/TDT Hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách nhà nước năm 1975
Thuộc tính văn bản
| Số hiệu | 11 TC/TDT |
|---|---|
| Loại văn bản | Thông tư |
| Ngành | |
| Lĩnh vực | |
| Cơ quan ban hành | Bộ Tài chính |
| Người ký | Trịnh Văn Bính — Thứ trưởng |
| Ngày ban hành | 05/07/1974 |
| Ngày hiệu lực | 05/07/1974 |
Trích yếu nội dung
Thông tư số 11 TC/TDT Hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách nhà nước năm 1975
Nội dung toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - tự do - hạnh phúc ------------------------------ |
Số : 11 TC/TDT | Hà nội ngày 5 tháng 7 năm 1974 |
THÔNG TƯ
Hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách nhà nước năm 1975
________________________
Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 109-TTg ngày 4/5/1974 về việc xây dựng dự án kế hoạch Nhà nước và chỉ thị số 169-TTg ngày 1/7/1974 về Ngân sách Nhà nước năm 1975.
Các yêu cầu cần phải nắm vững trong việc xây dựng dự toán Ngân sách Nhà nứơc năm 1975 là :
1- Nỗ lực phấn đấu để tăng nhanh nguồn thu trong nước , nâng cao tích lũy tiền tệ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Cần nắm vững năng lực sản xuất , khai thác triệt để mọi khả năng tiềm tàng , động viên mọi lực lượng sẵn có để làm ra nhiều sản phẩm , phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu cao nhất đã đạt được năm 1964 hay năm 1971 ; đồng thời cần có sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý : nẵm vững kế hoạch , bảo đảm các điều kiện cho sản xuất được liên tục , có biện pháp cụ thể tăng năng suất lao động , nâng cao công suất thiết bị , tiết kiệm tiêu hao vật tư , sử dụng vốn có hiệu quả , phấn đấu trở lại năng suất lao động và giá thành đã đạt trước chiến tranh... từ đó mà xây dựng dự toán thu nộp ngân sách Nhà nước một cách tích cực nhất.
Thi hành đúng đắn chính sách đối với khu vực tập thể và cá thể , tích cực chống thất thu , đi đối với việc tăng cường quản lý thị trường , giúp đỡ các hợp tác xã phát triển sản xuất đúng hướng và củng cố quan hệ sản xuất.
Đẩy mạnh khai thác mọi nguồn thu khác , nhất là các nguồn thu về sự nghiệp.
2- Sử dụng hợp lý nguồn vốn nước ngoài nhằm đẩy mạnh sản xuất , tăng nhanh thu nhập quốc dân. Cần xem xét kỹ các đơn nhập hàng , đối chiếu với chủ trương , đảm bảo tiết kiệm ngoại tệ , chấn chỉnh công tác ký kết hợp đồng ngoại thương , giao nhận và thanh toán , nhằm chống hư hỏng mất mát và tập trung nhanh vốn vào ngân sách.
Tăng cường quản lý viện trợ nhân đạo và viện trợ nhân dân theo hướng tập trung và thống nhất quản lý nhằm tranh thủ được sự viện trợ thiết thực , sát với yêu cầu của ta bảo đảm nhận , phân phối và sử dụng hàng một cách đúng đắn và hợp lý để giảm chi và tăng nguồn thu cho ngân sách.
3- Thực hiện tiết kiệm triệt để về mọi mặt : tiết kiệm trong sản xuất trong đầu tư và thực hiện đầu tư , trong chỉ tiêu quốc phòng B, C trong chi về tiêu dùng : mọi việc chi tiêu đều phải được tính toán hết sức chặt chẽ.
Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ khâu kế hoạch (bố trí vốn tập trung vào các công trình trọng điểm , giảm bớt các công trình dưới hạn ngạch , xét duyệt kỹ thiết kế và dự toán , đơn giá ) đến khâu thực hiện đầu tư (chuyên môn hóa các tổ chức thi công , chấn chỉnh quản lý xây lắp , sử dụng , thiết bị thi công , quản lý giá thành xây lắp ...) , kết hợp sử dụng vốn Nhà nước và huy động vốn của hợp tác xã và sức lao động của nhân dân.
Nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu khoa học , thí nghiệm , khảo sát thăm dò , các sự nghiệp giáo dục , y tế , xã hội đảm bảo tốc độ phát triển hợp lý với chi phí hết sức tiết kiệm giữ vững phương châm dựa vào dân để phát triển các sự nghiệp phúc lợi.
Đảm bảo nhu cầu đào tạo công nhân và cán bộ theo hướng ; cần đối với nhu cầu , với khả năng trường sở , giáo viên , tránh làm ồ ạt , thiếu cân nhắc toàn diện.
Thực hiện giảm chi về hành chính , tiếp tục hoãn việc xây dựng trụ sở cơ quan nhua chỉ thị số 269-TTg ngày 26/12/1973 đã quy định ; xúc tiến nghiên cứu sửa đổi một số chế độ chỉ tiêu không hợp lý , cương quyết tinh giảm biên chế , và giảm nhẹ bộ máy gián tiếp.
4- Vận dụng đúng đắn chính sách giá cả và các đòn bẩy kinh tế trong việc thực hiện các nhiệm vụ sản xuất , thu mua , xây dựng cơ bản ; chống xu hướng dùng tiền đẩy công việc , buông lỏng quản lý ; kết hợp chặt chẽ giữa ngân sách , thăng bằng tiền mặt góp phần ổn định tài chính , tiền tệ , giá cả và đời sống.
5- Xây dựng kế hoạch , tài chính đi đôi với kế hoạch hiện vật từ cơ sở lên , đảm bảo cân đối các mặt và nâng cao hiệu quả của kế hoạch kinh tế ; mọi chủ trương và hoạt động đều phải tính toán chặt chẽ chi phí , so sánh chi phí với hiệu quả đạt được , phấn đấu chi phí ít đạt hiệu quả cao.
Đi đôi với việc xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước 1975 , cần xây dựng kế hoạch thu chi ngoại tệ năm 1975 và kế hoạch tín dụng 1975.
Để đảm bảo cho việc xây dựng dự toán Ngân sách năm 1975 thể hiện đầy đủ tư tưởng chỉ đạo và các yêu cầu nêu trên của Thủ tướng Chính phủ , Bộ Tài chính đề nghị các Bộ , Tổng cục các ủy ban hành chính tỉnh và thành phố chú ý tăng cường lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện tốt những điểm hướng dẫn sau đây :
I- ĐẢM BẢO CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC MỘT CÁCH TÍCH CỰC VÀ VỮNG CHẮC , GÓP PHẦN THỰC HIỆN ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH TIỀN TỆ VÀ GIÁ CẢ.
Ngân sách nhà nước năm 1975 phải đảm bảo các yêu cầu cấp bách và to lớn về củng cố quốc phòng , chi viện tiền tuyền khôi phục và phát triển kinh tế , tiếp tục giải quyết các vấn đề xã hội giáo dục , y tế, văn hóa đồng thời chuẩn bị cho yêu cầu phát triển kinh tế trên quy mô lớn sau này. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết là phải bằng mọi cách phấn đấu tăng nhanh nguồn thu trong nước.
A/ Về thu :
Đối với khu vực kinh tế quốc doanh.
Các Bộ , các ngành , các địa phương cần xây dựng dự toán thu nộp cho Ngân sách Nhà nước theo tinh thần tích cực nhất , trên cơ sở tận dụng và khai thác triệt để mọi khả năng tiềm tàng sẵn có (thông qua kết quả kiểm kê ngày 1/10/1973 và kết quả điều tra năng lực sản xuất ) để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh phát triển mặt hàng , giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ , phấn đấu giảm tiêu hao vật chất , hạ giá thành và phí lưu thông xuống bằng hoặc dưới mức đã đạt trước chiến tranh.
Ngành công nghiệp : phấn đấu tăng nhanh giá trị sản lượng hàng hóa trên cơ sở nâng cao và tận dụng công suất thiết bị hiện có, sửa chữa kịp thời các thiết bị hư hỏng , phấn đấu giảm mức tiêu hao vật tư ( bảo quản tốt vật tư , quản lý vật tư theo định mức , tiết kiệm , giảm tỷ lệ sản phẩm hư hỏng , tận dụng và tích cực thu mua các nguyên liệu sẵn có trong nước.Cần có biện pháp quản lý chặt chẽ và sử dụng tốt số lao động hiện có , đảm bảo đủ ngày công , giờ công theo chế độ , giảm bớt số lao động gián tiếp để đưa sang sản xuất , đồng thời tích cực bố trí , sắp xếp , không để có một người nào không có việc làm thiết thực).
Ngành vận tải : nghiên cứu bố trí lại mạng lưới vận tải sử dụng các ngành vận tải đường sắt , đường ô tô đừơng sông ...giữa trung ương và địa phương. Cần có biện pháp tăng một cách đáng kể tỷ lệ vận chuyển hàng hai chiều , nâng cao năng lực vận tải ô tô , cần giải quyết tốt việc phân công giữa vận tải của Bộ Giao thông vận tải và các đội vận tải chủ lực của các Bộ , các địa phương. Phấn đấu đạt và vượt những định mức kinh tế kỹ thuật đã đạt được trước chiến tranh , triệt để tiết kiệm nhiên liệu , xăng , dựa trên cơ sở đó phấn đấu hạ giá thành vận tải , tăng tích lũy tiền tệ nộp cho Ngân sách.
Ngành thương nghiệp : có biện pháp , tăng cường công tác thu mua , nắm nguồn hàng , cải tiến phương thức bán hàng , tăng cường bảo quản hàng hóa, chấn chỉnh lại công tác hạch toán nắm vững tồn kho và điều hàng hợp lý. Năm 1975 ngành thương nghiệp phải đưa tỷ lệ phí lưu thông trở lại và hạ hơn mức trước chiến tranh trên cơ sở tích cực loại trừ những yếu tố làm tăng chi phí một cách bất hợp lý trong năm 1974 và các năm trước đây như : chấm dứt việc đưa hàng hóa đi đường vòng , tăng tỷ trọng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt , đường sông , chấp hành nghiêm chỉnh sách giá cả của Nhà nước về vận tải thô sơ và trả công bốc xếp , hạ tỷ lệ hao hụt , chấm dứt tình trạng để mất mát vật tư hàng hóa do sơ hở trong quản lý và trong quá trình vận chuyển.
Ngành nông trường lâm nghiệp : có biện pháp sử dụng tốt thiết bị , bảo dưỡng và sửa chữa xe kịp thời , quản lý tốt ngày công lao động ở khâu khai thác gỗ , điều động kịp thời và tận dụng lao động ở các nông trường lúc thời vụ để tận thu các sản phẩm đang độ thu hoạch , có kế hoạch chế biến kịp thời , hạn chế việc để hư hỏng , mất mát sản phẩm , phấn đấu giảm lỗ và tiến tới không lỗ đối với một số sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi (thóc , ngô , khoai , sắn , thịt lợn , sữa...) tiến lên kinh doanh ngày càng có lãi.
Ngành thủy sản : phấn đấu tăng sản lượng đánh cá biển , tăng số ngày hoạt động tàu; có biện pháp rút ngắn thời gian sửa chữa tàu ; cải tiến phương pháp đánh bắt cá biển : tổ chức cho tàu đánh bắt cá dài ngày trên biển , giảm bớt thời gian chờ đợi bốc dỡ hàng , phấn đấu hạ giá thành , cải tiến khâu chọn lọc cá nâng cao chất lượng cá để tăng giá bán bình quân, tiến dần lên ngày càng có lãi. Tổ chức đánh bắt cá trên các mặt nước lớn (Thác bà , Đồng mô , Ngãi sơn...) . Đẩy mạnh nuôi cá nước lợ và tăng cường tổ chức đánh bắt , chế biến để sử dụng kịp thời.
Đối với các ngành khác : nâng cao trách nhiệm , phát huy tính chủ động , sáng tạo của từng đơn vị , từng xí nghiệp tìm mọi biện pháp để tăng thêm sản lượng , nâng cao chất lượng sản phẩm , giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ , phấn đấu giảm chi phí sản xuất , hạ giá thành sản phẩm.
Đối với các xí nghiệp trong năm 1974 còn phải bù lỗ , phải phân biệt rõ lỗ do chính sách giá cả và lỗ do khâu kinh doanh sang năm 1975 Nhà nước chỉ giải quyết việc bù lỗ do chính sách. Đối với lỗ do kinh doanh chưa tốt các Bộ , các ngành cần tìm mọi biện pháp để khắc phục.
Thu sự nghiệp : Các Bộ , tổng cục và các điạ phương cần tính toán đầy đủ khoản thu này để nộp cho Ngân sách , chú ý tận thu tiền bán các sản phẩm của các Viện nghiên cứu , các trạm trại các viện thiết kế . Đối với các sản phẩm thu hồi được sau quá trình nghiên cứu , thí nghiệm phải quy định giá cả tiêu thụ và chế độ sử dụng...
Cần chú ý nộp đầy đủ cho Ngân sách các khoản thu về thủy lợi phí , về sự nghiệp khí tượng , đồ bản , thông tấn truyền thanh , tiền bán các tài sản công ... cần đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao , biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động phục vụ khác để tăng thu cho Ngân sách.
Thu về khấu hao cơ bản : tính toán kỹ trên cơ sở tài sản cố định hiện có và số tài sản cố định dự kiến tăng thêm trong kế hoạch đầu tư 1974-1975, đồng thời soát xét lại các tỷ lệ trích khấu hao cho đúng đắn.
Thu về biến giá tài sản cố định : thu dọn , tập trung các thiết bị máy móc và các tài sản cố định khác bị hư hỏng để có kế hoạch thanh lý , tiêu thụ theo đúng chế độ Nhà nước và nộp tiền vào Ngân sách.
Thu về hoàn vốn thừa : tính lại định mức vốn cho từng xí nghiệp phù hợp với điều kiện thời bình và theo yêu cầu tăng nhanh vòng quay vốn , điều hòa vốn giữa các xí nghiệp ; soát lại vốn thiết bị mà Ngân sách đã cấp 100% để có kế hoạch huy động ra sử dụng , thu hồi lại vốn cho Ngân sách.
+ Đối với khu vực kinh tế tập thể và cá thể : có biện pháp cụ thể gíup đỡ các hợp tác xã nông nghiệp đẩy mạnh sản xuất , củng cố quan hệ sản xuất tăng cường công tác quản lý , trên cơ sở đó làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước. Đối với sản xuất tiểu thủ công nghiệp , cần có sự phân công cũng như phối hợp chặt chẽ về một số mặt hàng giữa quốc doanh và hợp tác xã , cải tiến khâu gia công , đồng thời chú ý đúng mức việc cung cấp vật tư , thiết bị , điện cho khu vực tập thể để đẩy mạnh sản xuất làm thêm mặt hàng phục vụ cho đời sống và xuất khẩu.
Cải tiến tổ chức thu thuế công thương nghiệp đối với các hợp tác xã ; cần kiểm điểm kỹ việc thu thuế , nguyên nhân thất thu để có biện pháp tăng cường chỉ đạo , nhằm thu đúng chính sách , đủ số hộ kinh doanh , sát doanh thu , lợi tức của hợp tác xã góp phần vào việc đấu tranh quản lý thị trường ổn định giá cả.
Cần chú ý đẩy mạnh chống thất thu về thuế đối với các hộ kinh doanh công thương nghiệp cá thể.
Đối với thuế nông nghiệp , cần kiểm tra lại diện tích phải nộp thế , tính toán đầy đủ số thuế phải thu theo đúng chính sách và chế độ quy định hiện hành , tích cực thu hết số thuế các năm trước còn đọng lại.
B/ Về dự toán chi :
Năm 1975 các nhu cầu chi rất lớn , trong khi có nguồn thu trong nước còn khó khăn nhất định và nguồn thu về vay nợ thì có giới hạn. Để đảm bảo được các nhiệm vụ của năm 1975 trong điều kiện nguồn vốn còn bị hạn chế , một mặt các ngành các địa phương phải phấn đấu tăng nhanh thu trong nước đồng thời phải ra sức sắp xếp công việc cho hợp lý , sử dụng vốn thật tập trung , cân nhắc ký hiệu của từng công việc , đề cao tinh thần tiết kiệm trong mọi việc sử dụng từ trung ương đến tận cơ sở.
Chi về đầu tư cơ bản : Phải căn cứ vào khả năng thực tế về thiết kế , thi công , về vật tư , về điều kiện tuyển lao động... để bố trí phù hợp với khả năng có thể làm được nhằm ưu tiên hoành thành dứt điểm công trình đang thi công dở dang và đưa nhanh vào sản xuất.
Cần chú ý đầu tư về chiều sâu , bằng những biện pháp kỹ thuật đúng đắn , để giành hiệu quả kinh tế cao : với số vốn ít cũng có khả năng làm thêm tăng lực sản xuất , tăng thêm sản lượng trong một thời gian ngắn.
Đối với các công trình xây dựng mới thì cân nhắc kỹ hiệu quả , so sánh nhiều phương án tập trung sức làm bằng được một số công trình và sớm đưa vào sản xuất , nhất thiết không làm tràn lan , kéo dài thời gian thi công, gây căng thẳng và lãng phí về vốn và nhiều mặt khác.
Đối với các công trình dưới hạn ngạch , cần cân nhắc kỹ mức độ cần thiết cương quyết hoãn, giảm các công trình không có hiệu quả tiến hành đăng ký theo chế độ quy định. Các địa phương cần tích cực huy động nguồn vốn kết dư Ngân sách các năm trước vốn vay Ngân hàng Nhà nước để làm thêm công trình ở địa phương ; những công trình này bố trí cân đối trong kế hoạch xây dựng cơ bản chung của Nhà nước.
Ngay từ đầu đối với từng công trình phải tiến hành lập dự toán chặt chẽ , căn cứ vào các định mức tiên tiến.
Chi về vốn lưu động : Các điều kiện về cung cấp , vận chuyển đã trở lại bình thường do đó cần soát lại các định mức dự trữ và tính lại định mức vốn cho từng xí nghiệp. Các Bộ các ngành , các địa phương cần tích cực huy động vật tư hàng hóa ứ đọng ra sử dụng , đẩy mạnh bán ra một số mặt hàng ta có lực lượng để điều hòa cho các nơi thiếu và tăng nhanh vòng quay vốn lưu động.
Trên cơ sở tính lại định mức vốn lưu động , các Bộ , Tổng cục và các địa phương điều hoà lại vốn cho các xí nghiệp (điều vốn thừa của một số xí nghiệp để cấp cho một số xí nghiệp mới đưa vào hoạt động), tranh thủ năm 1975 chẳng những không tăng nhu cầu vốn lưu động mà có vốn thừa để thu hồi và nộp lại cho Ngân sách.
Chi về sự nghiệp kinh tế : Tính toán chặt chẽ từng khoản dự trù chi ; kinh phí thăm dò , khảo sát thiết kế , trung đại duy tu đường sá... cần được tính toán kỹ trên cơ sở các định mức tiên tiến tiết kiệm đảm bảo các nhiệm vụ cần thiết với khả năng thực tế có thể làm được.
Đối với các trạm trại nông nghiệp các hệ thống các xưởng trường của nông nghiệp ... phải hướng dẫn đi vào việc hạch toán kinh tế , có tính toán chi phí sản xuất , hiệu quả kinh tế , có thu hồi đầy đủ giá trị các sản phẩm tiến tới dự toán kinh phí theo lối bù chênh lệch ; phải có chế độ sử dụng các sản phẩm thu hồi không tùy tiện phải quy định chế độ giá cả hợp lý.
Chi về nghiên cứu khoa học : dự trù chi phải được tính toán kỹ theo từng đề tài một : xem xét kỹ hiệu quả và tránh nghiên cứu trùng lập. Ngân sách Nhà nước chi ghi khỏan chi về nghiên cứu khoa học của các Bộ , Tổng cục đã đăng ký đề tài và có ý kiến tham gia của UBKTNN. Đối với các đề tài cần nghiên cứu nhiều năm thì phải dự trù kinh phí cho toàn bộ đề tài , có phân chia ra từng năm ; sau mỗi năm phải đánh giá kết quả quyết định năm sau tiếp tục hoặc đình chỉ việc nghiên cứu nếu xét thấy không có hiệu quả , tránh việc nghiên cứu liên miên , năm nào cũng dự trù mà công việc không kết thúc . Cần có chế độ tiêu thụ thu hồi đầy đủ giá trị những sản phẩm thí nghiệm để thu nộp cho Ngân sách hoặc để giảm cấp phát.
Chi về đào taọ cán bộ trung học , đại học, và công nhân kỹ thuật :
Dự trù chi về đào tạo công nhân kỹ thuật phải tính toán kỹ cân đối các mặt khả năng tuyển sinh , cơ sở vật chất (trường lớp) khả năng về giáo viên nhu cầu về từng loại công nhân kỹ thuật , tránh tình trạng đào tạo tràn lan , không có chất lượng và đào tạo ra không có việc làm. Phải phân biệt thời gian đào tạo từng loại (đào tạo tập trung , đào tạo theo lối kèm cặp tại xí nghiệp ...) để dự trù kinh phí cho sát.
Đối tượng đào tạo trung , đại học phải xét kỹ nhu cầu vị trí công tác nào , cơ sở nào cần trình độ đại học , trung học , quy định tỷ lệ đào tạo thích hợp giữa đại học , trung học và công nhân kỹ thuật để tránh đào tạo thừa , gây lãng phí.
Chi về giáo dục và y tế :
Đốivới chi về giáo dục , cần dự trù đủ đảm bảo cho số học sinh tăng trong niên khóa 75-1978 theo chỉ tiêu kiểm tra của kế hoạch Nhà nước, đồng thời có cải thiện điều kiện học tập cho học sinh trang bị thêm một số dụng cụ học tập và đồ dùng giảng dạy theo định mức quy định cho từng loại trường nhằm tăng chất lượng giáo dục.
Chi về phát triển sự nghiệp y tế cần dự trù theo định mức hợp lý , chú ý nâng cao chất lượng chữa bệnh và phòng bệnh. Đối với khoản thuốc men thông thường ở cơ quan xí nghiệp cần tính toán chặt chẽ theo mức chi bình quân đầu người / năm đã quy định.
Chi về hành chính : Phải dự trù trên tinh thần giản bộ máy hành chính , giảm bớt người ở các bộ phận hành chính đưa sang khu vực sản xuất , đưa về cơ sở đưa đi xây dựng hoặc quản lý các vùng kinh tế mới. Triệt để tiết kiệm các khoản mua sắm tài sản , huy động ra sử dụng một số văn phòng phẩm còn lại của năm trước , tích cực hạn chế các khoản chi không cần thiết.
Đối với Ngân sách địa phương , ngoài những phương hướng chung đã nêu ở trên , đề nghị ủy ban hành chính tỉnh và thành phố lưu ý thêm một số điểm sau đây:
Căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật , cần tính toán nguồn thu hết sức chặt chẽ với tinh thần tích cực xem số kiểm tra đã giao (về phần thu thường xuyên và nhất là thu cố định của địa phương ) là mức tối thiểu , trên cơ sở đó tìm mọi biện pháp để tận dụng các khả năng tiềm tàng , tìm nguồn thu mới , phấn đấu vượt số kiểm tra thu đã giao ; đồng thời xem số kiểm tra về chi là số tối đa ; cần sắp xếp lại công việc cho thật hợp lý ; theo thứ tự ưu tiên cần thiết ; mọi khoản chi tiêu đều phải tính toán hiệu quả ; các ngành ở địa phương phải có một sự chuyển biến mới trong công tác quản lý kinh tế tài chính giúp cho UBHC phấn đấu bảo đảm tự cân đối thu chi thường xuyên và tăng dần vốn XDCB tự có , giảm bớt phần trợ cấp của Ngân sách Nhà nước.
- Đối với các khoản chi về tiêu dùng và các khoản khác phải thật tiết kiệm theo hướng triệt để tinh giản bộ máy Nhà nước và tránh việc mua sắm tràn lan phô trương hình thức.
II- ĐẢM BẢO VIỆC LẬP KẾ HOẠCH KINH TẾ ĐI ĐÔI VỚI KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH TỪ CƠ SỞ LÊN.
Trong tháng 6/1974 Thủ tướng Chính phủ giao số kiểm tra về tài chính cho các Bộ , Ngành và các địa phương. Trên cơ sở đó , các Bộ các Ngành và các điạ phương tổ chức giao đến tận cơ sở , cùng với việc giao các chỉ tiêu kinh tế , để các cơ sở lập kế hoạch cho được toàn diện.
- Số kiểm tra giao cho cơ sở , về thu coi như là mức tối thiểu về chi coi như mức tối đa. Trên cơ sở , phối hợp chặt chẽ trong việc nghiên cứu các biện pháp kế hoạch , vật tư lao động tài chính của cơ sở, khai thác triệt để mọi khả năng tiềm tàng sẵn có để phấn đấu tăng thu ; đồng thời bố trí công việc thật hợp lý đảm bảo chi tiêu tiết kiệm mà vẫn làm được nhiều việc với chất lượng tốt hơn , hiệu quả hơn.
- Các cơ sở , đơn vị dự toán cần dựa vào các đoàn thể quần chúng để giáo dục và động viên quần chúng nâng cao ý thức làm chủ tập thể , tích cực tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất kỹ thuật và tài chính, thu thập ý kiến quần chúng , hoàn thiện các biện pháp phấn đấu tăng sản lượng , tăng năng suất lao động nâng cao công suất sử dụng máy móc , thiết bị , tiết kiệm nguyên vật liệu , nâng cao chất lượng sản phẩm , giảm chi , tăng thu cho Ngân sách Nhà nước.
Hiệu quả của kế hoạch giá trị tổng sản lượng và sản lượng hàng hóa phải thể hiện ở kế hoạch giảm giá thành , tăng tích lũy tiền tệ (thu quốc doanh , thuế và lãi).
Hiệu quả của kế hoạch tiến bộ kỹ thuật và cải tiến kỹ thuật cuối cùng sẽ làm tăng bao nhiêu giá trị sản lượng hạ được bao nhiêu giá thành làm thay đổi chất lượng sản phẩm thế nào . Kết quả làm tăng thêm bao nhiêu tích lũy tiền tệ . Hiệu quả của kế hoạch lao động và tiền lương phải thể hiện ở mức gia tăng hợp lý giữa năng suất lao động với tiền lương.
Hiệu quả của kế hoạch đầu tư trước hết phải thể hiện ở mức doanh lợi ngày càng có so với vốn đầu tư (đối với công trình đầu tư mới) và ở mức gia tăng doanh lợi ngày càng cao vốn đầu tư thêm (đối với cải tạo và mở rộng xí nghiệp) đồng thời phải thể hiện ở suất đầu tư ngày càng giảm trên một đơn vị công suất.
- Kế hoạch tài chính đựơc cân đối từ cơ sở lên sẽ tạo điều kiện cho việc tổng hợp lập Ngân sách Nhà nước có căn cứ , và có điều kiện để cân đối vững chắc.
Năm 1975 bước đầu các cơ quan tổng hợp thực hiện việc cân đối tổng hợp các kế hoạch từ cơ sở lên trước khi các ngành bảo vệ kế hoạch trước Chính phủ. Để làm tốt việc đó , các Bộ , các ngành , các địa phương cần dành một lực lượng các bộ thích đáng giúp đỡ các cơ sở , để việc lập kế hoạch kinh tế cũng như tài chính năm nay của các cơ sở đảm bảo đúng yêu cầu và thời gian quy định.
Các Bộ, các ngành, các điạ phương cũng cần bố trí lực lượng để đảm bảo việc tổng hợp nhanh chóng, kịp thời các kế hoạch từ cơ sở lên.
- Các Vụ , Cục thuộc Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần cử cán bộ tham gia với các Bộ chủ quản , các ủy ban hành chính tỉnh , thành phố xuống cơ sở để giúp cho các cơ sở lập kế hoạch kịp thời , nắm tình hình thực tế từ trong quá trình xây dựng kế hoạch để có thể lập các cân đối tổng hợp kịp thời chuẩn bị đầy đủ cho việc bảo vệ kế hoạch.
- Trong việc lập kế hoạch sản xuất - kỹ thuật - tài chính các xí nghiệp phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các biểu mẫu các chỉ tiêu do Nhà nước đã ban hành ; nhưng để cho các cơ quan quản lý cấp trên xí nghiệp nắm được tình hình từng bước và tổng hợp được nhanh chóng , các Bộ , các ngành , các UBHC địa phương cần quy định cho các cơ sở báo cáo một số chỉ tiêu chủ yếu về tài chính cần thiết cho việc nghiên cứu các mặt cân đối chung của cả nước và của toàn ngành cũng như xem xét hiệu quả so sánh giữa các cơ sở trong ngành.
Nhằm xóa bỏ tình trạng tách rời giữa tài chính với hiện vật đã kéo dài trong nhiều năm do việc lập và tổng hợp kế hoạch tài chính chậm hơn một bước so với kế hoạch kinh tế kỹ thuật, Bộ Tài chính yêu cầu các Bộ , các ngành các điạ phương gửi kịp thời cho Bộ Tài chính bảng tổng thể kế hoạch thu chi tài chính và một số chỉ tiêu thiết yếu theo mẫu kèm sau. Đến 15 tháng 9 năm 1974 , các bộ , các ngành , các điạ phương phải gửi cho Bộ Tài chính dự án kế hoạch với yêu cầu đã rút gọn đó (mỗi thứ 2 bản) để Bộ Tài chính có thể sơ bộ cân đối Ngân sách Nhà nước trước khi các Bộ , các ngành và các điạ phương chính thức bảo vệ kế hoạch trước Chính phủ (lịch làm việc với các Bộ , các ngành và các điạ phương về dự án thu chi Ngân sách năm 1975 sẽ thông báo sau).
- Sau khi kế hoạch được duyệt chính thức , các Bộ , các ngành và các điạ phương sẽ hoàn chỉnh đầy đủ các biểu mẫu kế hoạch và dự án thu chi Ngân sách năm 1975 theo mục lục ngân sách (biểu mẫu đã ban hành theo thông tư số 11-TC/TDT ngày 24/8/1973 và công văn hướng dẫn lập Ngân sách điạ phương ngày 12/9/1973 số 217-TC/NSĐP).
Biểu dự toán thu chi chính thức của Bộ , Tổng cục và các điạ phương (biểu tổng hợp) phải được phân thành 4 quy để tiện việc theo dõi và kiểm tra việc lập kế hoạch thu chi hàng quý phải có cột báo cáo thực hiện năm quyết toán để làm căn cứ so sánh.
- Kế hoạch chính thức của các Bộ , các ngành và các điạ phương gửi đến Bộ Tài chính sẽ được dùng làm căn cứ để kiểm tra việc hoàn thành kế hoạch và xét khen thưởng cho trích lập các quỹ của các ngành , đồng thời dùng làm căn cứ để lập cân đối Ngân sách Nhà nước năm báo cáo và lập cân đối Ngân sách Nhà nước chính thức của năm kế hoạch.
III / THỰC HIỆN MỘT BƯỚC VIỆC QUẢN LÝ VÀ KẾ HOẠCH HÓA THEO NGÀNH , KẾT HỢP VỚI QUẢN LÝ VÀ KẾ HOẠCH THEO LÃNH THỔ.
Phù hợp với việc kế hoạch hóa theo ngành và mặt kinh tế như đã nêu trong chỉ thị 109-TTg ngày 4/5/1974 về mặt tài chính bước đầu sẽ lập kế hoạch thu chi Ngân sách năm 1975 theo những ngành lớn (ngành cấp 1) quy định trong nghị định 37CP ngày 12/3/1974 của TTCP , trong đó có tách ra một số ngành cụ thể , khớp với việc tổng hợp kế hoạch theo ngành về mặt kinh tế. Ngoài ra về mặt tài chính cần phải thực hiện một bước việc kết hợp kế hoạch hóa theo ngành và theo lãnh thổ , một số quỹ tài chính (đầu tư cơ bản , đào tạo cán bộ , sự nghiệp y tế , sự nghiệp giáo dục phổ thông , tiền hàng viện trợ và vay) căn cứ vào đặc điểm hình thành và sử dụng của những quỹ đó.
Việc kế hoạch hóa tài chính theo ngành sẽ được tiến hành qua hai bước :
Bước 1 :
a/ Cuối tháng 8/1974 , các Bộ , Tổng cục và các điạ phương phải tổng hợp xong theo từng ngành , kế hoạch tài chính đã được rút gọn từ các cơ sở trực thuộc gồm 2 biểu:
Biểu số 1 : Biểu tổng hợp dự toán thu chi năm 1975 của từng ngành (ngành kinh tế quốc dân trong từng Bộ , từng điạ phương. Ví dụ : ngành công nghiệp , ngành xây dựng , ngành nông lâm nghiệp , ngành thương nghiệp cung ứng vật tư, ngành vận tải , bưu điện...)
Biểu số 2 : Một số chỉ tiêu phân tích kèm theo dự toán thu chi năm 1975 của từng ngành . Những ngành đã kế hoạch hóa và hạch toán kinh tế toàn ngành từ trước như vận tải đường sắt ... thì có thể lập các biểu kế hoạch chi tiết hiện hành thay cho biểu số 2 về một số chỉ tiêu phân tích.
b/ Sau đó căn cứ vào biểu dự toán thu chi của các ngành trực thuộc mỗi Bộ Tổng cục và địa phương lập một biểu tổng hợp dự toán thu chi năm 1975 (biểu số 1) , không cần tổng hợp biểu các chỉ tiêu phân tích (biểu số 2) .
Ngoài biểu tổng hợp dự toán thu chi , mỗi Bộ , Tổng cục , địa phương còn phải lập một số biểu đã ban hành theo thông tư số 11-TC/TDT ngày 24/8/1973 như sau :
- Dự toán chi về sự nghiệp kinh tế (biểu số 9 - SNKT)
- Dự toán chi về nghiên cứu khoa học (biểu số 11-NCKH)
- Dự toán chi về sự nghiệp đào tạo (biểu 12 - SNĐT)
(Mỗi loại đào tạo : công nhân kỹ thuật , trung học , đại học, bổ túc văn hóa, giáo dục phổ thông lập một biểu riêng. Đối với dự toán chi đào tạo cần thêm 3 chỉ tiêu : số học sinh có mặt đầu năm, tốt nghiệp trong năm , tuyển thêm trong năm Đối với dự toán chi giáo dục phổ thông cần thêm 3 chỉ tiêu : số học sinh cấp 1,2,3).
- Dự toán chi về sự nghiệp y tế (biểu 13-SNYT)
- Dự toán chi về quản lý hành chính (biểu 17-QLHC)
Các biểu tổng hợp theo ngành (mục a) và tổng hợp theo Bộ, Tổng cục, điạ phương (mục b) đều gửi đến Bộ Tài chính mỗi thứ 2 bản để Bộ Tài chính cân đối Ngân sách lần đầu trước khi các ngành , các điạ phương chính thức bảo vệ kế hoạch Nhà nước.
Bước 2 : Vào khoảng cuối tháng 12/1974. Sau khi kế hoạch đã được duyệt , các Bộ, Tổng cục và các điạ phương tổng hợp dự án Ngân sách chính thức theo ngành , theo Bộ và theo địa phương dựa theo trình tự như trên nhưng phải lập đầy đủ các biểu mẫu đã ban hành theo thông tư số 11-TC/TDT ngày 24/8/1973.
Để đảm bảo yêu cầu và thời gian trình Ngân sách Nhà nước cùng một lúc với việc trình kế hoạch Nhà nước đề nghị các Bộ , Tổng cục các UBHC tỉnh và thành phố chỉ đạo chặt chẽ các cơ sở làm theo đúng tiến độ đã quy định trong chỉ thị 109-TTg ngày 4/5/1974 và tổng hợp kịp thời gửi cho Bộ Tài chính theo đúng yêu cầu và thời gian quy định trong thông tư này.
K/T BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký)
Trịnh Văn Bính |
Lược đồ văn bản
Tải về & chia sẻ
Văn bản liên quan
Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật
Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.