Thông tư 09/2014/TT-BTTTT quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội.
Hoạt động quản lý, cung cấp và sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử tổng hợp và mạng xã hội được điều chỉnh bởi Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, cùng các quy định về cấp phép tại Nghị định số 27/2018/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định số 72/2013/NĐ-CP). Bài viết tổng hợp những quy định cốt lõi áp dụng tại thời điểm năm 2019.
Thông tư 09/2014/TT-BTTTT áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến việc quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội. Trang thông tin điện tử tổng hợp và trang thông tin điện tử thiết lập mạng xã hội đều phải đăng ký theo quy định.
Trên trang chủ của trang thông tin điện tử phải hiển thị đầy đủ các nội dung sau:
Ngoài ra, trang thông tin điện tử tổng hợp, trang thông tin điện tử tổng hợp của cơ quan báo chí và mạng xã hội còn phải ghi rõ số giấy phép đang còn hiệu lực, ngày cấp và cơ quan cấp phép. Khi trích dẫn lại thông tin, trang tổng hợp phải tuân theo quy định về nguồn tin và không được đăng tải ý kiến nhận xét, bình luận của độc giả về nội dung tin, bài được trích dẫn.
Tổ chức, doanh nghiệp xin cấp phép phải được thành lập, hoạt động hợp pháp theo pháp luật Việt Nam, có ngành nghề đăng ký kinh doanh hoặc chức năng, nhiệm vụ phù hợp với nội dung thông tin xin cấp phép; có đủ phương tiện kỹ thuật, nhân sự và chương trình quản lý thông tin phù hợp quy mô hoạt động.
Người chịu trách nhiệm quản lý phải bảo đảm:
Hồ sơ cấp phép gồm: đơn đề nghị cấp giấy phép theo Mẫu số 23 tại Phụ lục I ban hành kèm Nghị định 27/2018/NĐ-CP; bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/đăng ký đầu tư/Quyết định thành lập, Điều lệ hoạt động; đề án hoạt động có chữ ký, dấu của người đứng đầu (nêu mục đích, nội dung, chuyên mục dự kiến, nguồn tin chính thức, phương án nhân sự, kỹ thuật, tài chính, địa điểm đặt máy chủ tại Việt Nam); và văn bản chấp thuận của tổ chức cung cấp nguồn tin.
Để được cấp giấy phép thiết lập mạng xã hội, tổ chức, doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật và quản lý thông tin. Hồ sơ gồm: đơn đề nghị theo Mẫu số 25 tại Phụ lục I của Nghị định 27/2018/NĐ-CP; bản sao hợp lệ giấy tờ pháp lý của tổ chức; đề án hoạt động; và thỏa thuận cung cấp, sử dụng dịch vụ mạng xã hội.
Thỏa thuận cung cấp, sử dụng dịch vụ mạng xã hội tối thiểu phải nêu: các nội dung cấm trao đổi, chia sẻ; quyền và trách nhiệm của người sử dụng cũng như của doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội; cơ chế xử lý thành viên vi phạm; cảnh báo rủi ro khi lưu trữ, trao đổi thông tin; cơ chế giải quyết khiếu nại, tranh chấp; việc công khai có hay không thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân và chính sách bảo vệ thông tin cá nhân của người dùng.
Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử tiếp nhận, thẩm định, cấp phép trang thông tin điện tử tổng hợp của các tổ chức ở Trung ương, tổ chức tôn giáo, cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế liên Chính phủ, cơ quan báo chí…, đồng thời cấp đăng ký dịch vụ mạng xã hội cho doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài có đại diện pháp nhân tại Việt Nam.
Sở Thông tin và Truyền thông TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cấp phép trang thông tin điện tử tổng hợp cho tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước có trụ sở hoạt động tại địa phương. Tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang tổng hợp và mạng xã hội có trách nhiệm gửi báo cáo định kỳ trước ngày 15 tháng 01 hằng năm tới Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử) và Sở Thông tin và Truyền thông địa phương.