Legalzone xin gửi đến bạn đọc các thông tin hữu ích về %%title%%

Sau hơn 30 năm hội nhập và phát triển, Việt Nam không chỉ khẳng định vị thế là một quốc gia tiếp nhận đầu tư hàng đầu trong khu vực mà còn vươn lên trở thành chủ thể có nhiều doanh nghiệp, dự án đầu tư ra nước ngoài đáng kể. Hiện nay, các nhà đầu tư Việt Nam đang hiện diện mạnh mẽ tại nhiều thị trường như Lào, Campuchia... Bài viết dưới đây phân tích thực trạng hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài và đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả dòng vốn này trong tương lai.
Theo dữ liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam ngày càng đa dạng về thị trường, ngành nghề, quy mô và hình thức đầu tư. Sự chuyển dịch này thể hiện rõ nét qua các loại hình kinh tế và nhóm doanh nghiệp tham gia vào quá trình mở rộng mạng lưới sản xuất kinh doanh ngoài lãnh thổ.
Thống kê lũy kế từ năm 1989 đến nay cho thấy, Việt Nam đã thực hiện đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn lên tới hơn 22 tỷ USD. Các lĩnh vực thế mạnh truyền thống bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, năng lượng và viễn thông. Trong đó, các thị trường lân cận như Lào, Campuchia và Myanmar chiếm gần 40% tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam.
Xét về cơ cấu ngành nghề trong giai động 11 tháng năm 2019, dòng vốn tập trung vào các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, xe máy (chiếm 25,8%); nông, lâm nghiệp và thủy sản (chiếm 14,3%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ (chiếm 13,1%) và kinh doanh bất động sản (chiếm 12,9%).
Về địa bàn đầu tư, Việt Nam đã mở rộng sự hiện diện tại 31 quốc gia và vùng lãnh thổ. Australia dẫn đầu với 141,3 triệu USD (chiếm 30,8%), tiếp theo là Hoa Kỳ (20,4%), Tây Ban Nha (13%), Campuchia (11,1%) và Singapore (10,5%). Bên cạnh khu vực châu Á, các doanh nghiệp Việt còn vươn tới các thị trường tiềm năng như New Zealand, Canada, Haiti, Cameroon...
Sự phát triển của dòng vốn này cũng đi kèm với sự đồng hành của hệ thống ngân hàng nội địa như BIDV, VietinBank, Sacombank, MB, SHB... Việc tận dụng tốt quan hệ ngoại giao và sự ủng quyết của chính quyền nước sở tại đã giúp hoạt động đầu tư mang lại nhiều kết quả khả quan, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung.
Khung pháp lý hiện hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng phạm vi đầu tư. Cụ thể, Nghị định số 83/2015/NĐ-CP Quy định về đầu tư ra nước ngoài đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc quản lý và thực hiện dự án. Đồng thời, việc ban hành Thông tư số 03/2018/TT-BKHĐT Hướng dẫn và Ban hành mẫu văn bản thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài đã giúp chuẩn hóa các thủ tục pháp lý, tạo môi trường thông thoáng cho nhà đầu tư và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước.
Nhờ đó, nhiều tập đoàn lớn của Việt Nam đã khẳng định được vị thế quốc tế với vốn đăng ký đầu tư vượt ngưỡng 1 tỷ USD như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), hay Công ty Cổ phần Hoàng Anh - Gia Lai...
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ phía Việt Nam vẫn đang đối mặt với không ít thách thức:
Để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp Việt Nam, chính quyền nước sở tại và cộng đồng địa phương, cần thực hiện các giải pháp sau:
Doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực nghiên cứu thị trường, chú trọng đào tạo đội ngũ nhân sự am hiểu pháp luật quốc tế và xây dựng chiến lược quản trị rủi ro chặt chẽ để thích ứng với môi trường kinh doanh đa dạng.