Ngày nay, có rất nhiều nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng. Tất tần tật quy định về nhãn hiệu nổi tiếng dưới đây của Legalzone

Nhãn hiệu đóng vai trò then chốt trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Thông qua việc giúp người tiêu dùng phân biệt các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau trên thị trường, nhãn hiệu khuyến khích chủ sở hữu duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng kỳ vọng của khách hàng. Trong số đó, nhóm nhãn hiệu có sức ảnh hưởng lớn nhất chính là nhãn hiệu nổi tiếng. Vậy theo quy định pháp luật hiện hành, thế nào là một nhãn hiệu nổi tiếng?
Để hiểu rõ về các quy định liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng, cần căn cứ vào các văn bản sau:
Theo quy định tại khoản 20 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nhãn hiệu nổi tiếng được hiểu là nhãn hiệu mà việc sử dụng chúng có thể làm cho người tiêu dùng biết đến rộng rãi về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, một nhãn hiệu chỉ được coi là nổi tiếng khi nó đã đạt đến mức độ được người tiêu dùng nhận diện rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Điều này có nghĩa là nếu một nhãn hiệu dù rất danh tiếng trên thế giới nhưng chưa được người tiêu dùng tại Việt Nam biết đến rộng rãi thì vẫn không mặc nhiên được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định pháp luật trong nước.
Căn cứ Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), việc đánh giá một nhãn hiệu có đạt tiêu chuẩn "nổi tiếng" hay không dựa trên các yếu tố thực tế sau:
Việc xem xét các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng này giúp xác định sức mạnh thương hiệu và khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Khác với các loại nhãn hiệu thông thường cần qua thủ tục đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu đối với nhãn hiệu nổi tiếng có đặc thù riêng. Căn cứ theo Khoản 2 Điều 6 Nghị định 103/2006/NĐ-CP:
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó theo quy định tại Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ mà không nhất thiết phải thực hiện thủ tục đăng ký.
Thực tiễn sử dụng là yếu tố then chốt. Để một nhãn hiệu được pháp luật công nhận chính thức là nổi tiếng, chủ sở hữu cần có yêu cầu và thông qua quá trình xem xét của cơ quan có thẩm quyền như Tòa án hoặc Cục Sở/hữu trí tuệ. Khi được công nhận qua thủ tục tố tụng dân sự hoặc quyết định hành chính, nhãn hiệu sẽ được ghi nhận vào Danh mục nhãn hiệu nổi tiếng tại Cục Sở hữu trí tuệ.
Phạm vi bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng rộng hơn rất nhiều so với nhãn hiệu thông thường. Theo điểm d khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sự kiện sửa đổi, bổ sung năm 2009), hành vi xâm phạm bao gồm:
Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng (bao gồm cả dạng dịch nghĩa, phiên âm) cho bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào – kể cả khi hàng hóa, dịch vụ đó không cùng loại hay không tương tự với danh mục gốc của nhãn hiệu nổi tiếng – nếu việc sử dụng này có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hoặc tạo ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa bên sử dụng và chủ sở hữu nhãn hiệu.
Điểm khác biệt cốt lõi là: Với nhãn hiệu thông thường, hành vi xâm phạm thường chỉ xét trong phạm vi nhóm hàng hóa/dịch vụ trùng hoặc tương tự. Tuy nhiên, với nhãn hiệu nổi tiếng, việc sử dụng dấu hiệu gây nhầm lẫn cho mọi loại hàng hóa, dịch vụ khác đều có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền.
Đối với các nhãn hiệu đã được đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, thời hạn bảo hộ được quy định tại khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Theo đó, văn bằng bảo hộ có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn và có thể được gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm.
Lưu ý rằng đối với nhãn hiệu nổi tiếng xác lập dựa trên thực tiễn sử dụng (không qua đăng ký), việc duy trì sự "nổi tiếng" phụ thuộc vào việc chứng minh tính liên tục của quá trình sử dụng và uy tín thương hiệu trên thị trường.