Hiện nay, việc đăng ký nhãn hiệu tại Việt nam đang diễn ra như thế nào ? Thủ tục quy trình đăng ký Quyền sở hữu công nghiệp sẽ được Luật sư

Quyền sở hữu công nghiệp là một bộ phận quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ, gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, cùng quy định về xâm phạm quyền theo pháp luật Việt Nam.
Theo khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): "Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh".
Như vậy, quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu đối với các giá trị sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, được xác lập và bảo vệ nhằm bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể.
Nhãn hiệu giúp người tiêu dùng phân biệt sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các cơ sở kinh doanh khác nhau, đồng thời là tài sản kinh doanh có giá trị đặc biệt với doanh nghiệp. Pháp luật quy định: "Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau".
Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng hai điều kiện: (1) là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; (2) có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
Quyền đối với nhãn hiệu được xác định theo văn bằng bảo hộ do Cục Sở hữu trí tuệ cấp. Chủ sở hữu nhãn hiệu có các quyền cơ bản:
Căn cứ Điều 11 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP, yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu gắn trên hàng hóa, bao bì, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo... trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ. Một dấu hiệu bị coi là xâm phạm khi đồng thời đáp ứng:
Trường hợp sản phẩm mang dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt về tổng thể với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm cùng loại sẽ bị coi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu theo Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ. Với nhãn hiệu nổi tiếng, phạm vi xem xét xâm phạm được mở rộng hơn để bảo vệ uy tín và nguồn gốc.
Việt Nam là thành viên Thỏa ước Madrid, do đó tổ chức, cá nhân đã nộp đơn hoặc đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam có thể đăng ký nhãn hiệu quốc tế tương ứng. Đơn được nộp cho Văn phòng quốc tế thông qua Cục Sở hữu trí tuệ; nhãn hiệu đăng ký quốc tế có hiệu lực bảo hộ như nhãn hiệu đăng ký trực tiếp tại từng quốc gia thành viên. Thông thường trong vòng 12 tháng kể từ khi đơn hợp lệ, nhãn hiệu sẽ được chấp nhận bảo hộ tại nước được chỉ định (nếu không bị từ chối).