bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. LegalZone xin tư vấn về Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp là hoạt động pháp lý quan trọng, giúp khai thác giá trị thương mại của các đối tượng này. Bài viết phân tích bản chất, các điều khoản hợp đồng và sự khác biệt giữa chuyển nhượng quyền sở hữu và chuyển quyền sử dụng theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Theo Điều 138 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác. Đây là hình thức "mua bán" quyền: toàn bộ quyền được chuyển từ bên chuyển nhượng sang bên nhận, thường là giao dịch một lần theo giá thỏa thuận.
Trong khi đó, theo khoản 1 Điều 141 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (li-xăng) là việc chủ sở hữu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền của mình. Người cấp li-xăng vẫn tiếp tục là chủ sở hữu, chỉ cho phép bên nhận được sử dụng một hoặc nhiều quyền.
Việc phân biệt này có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định ai có quyền khởi kiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và xác định nghĩa vụ thuế của các bên.
Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có thể là:
Cơ sở pháp lý điều chỉnh các hợp đồng này là Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ.
Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp phải được lập bằng văn bản và bao gồm các điều khoản cơ bản không thể thiếu:
Bên cạnh đó là các điều khoản thông thường (bất khả kháng, chấm dứt hợp đồng, giải quyết tranh chấp, hiệu lực, phạt vi phạm) và các điều khoản tùy nghi (cam kết bảo đảm, bảo mật thông tin, cải tiến kỹ thuật, chuyển giao hợp đồng…).
Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đặt ra một số giới hạn quan trọng:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp. Đối với hợp đồng sử dụng (li-xăng), hợp đồng có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên nhưng chỉ có giá trị pháp lý với bên thứ ba khi đã đăng ký; hợp đồng mặc nhiên chấm dứt nếu quyền sở hữu công nghiệp của bên giao bị chấm dứt.
Một trường hợp đặc thù là bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế (li-xăng bắt buộc) trong những điều kiện do Luật Sở hữu trí tuệ quy định.