Hướng dẫn so sánh trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật hiện hành. Những lưu ý không thể bỏ qua
Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm đều là những khoản tiền mà người lao động được nhận khi chấm dứt quan hệ lao động. Tuy nhiên, tùy thuộc vào lý do chấm dứt hợp đồng và hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp mà người lao động sẽ được hưởng một trong hai loại trợ cấp này. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành để giúp bạn phân biệt rõ ràng giữa hai chế độ trên.
Chế độ trợ cấp thôi việc được điều chỉnh bởi Điều 48 Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13, cùng các hướng dẫn chi tiết tại Điều 14, Điều 15 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP và các nội dung sửa đổi tại Nghị định số 148/2018/NĐ-CP.
Người sử dụng lao động (NSDLĐ) có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động (NLĐ) đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động sau đây:
Các trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc:
Công thức tính trợ cấp thôi việc được xác định như sau:
Trợ cấp thôi việc = ½ x Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc x Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
Lưu ý về cách xác định thời gian:
Thời gian làm việc thực tế bao gồm các khoảng thời gian như: làm việc theo hợp đồng; thời gian được cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế tương ứng với chế độ ốm đau, thai sản theo Luật BHXH; thời gian nghỉ hằng tuần; nghỉ lễ, tết; nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương; thời gian ngừng việc không do lỗi của NLĐ...
Thời gian đã tham gia BHTN bao gồm: Thời gian NSDLĐ đã đóng BHTN hoặc thời gian NSDLĐ chi trả cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền tương đương mức đóng BHTN theo quy định.
Về cách làm tròn: Nếu có tháng lẻ, từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng được tính là 1/2 năm; từ đủ 6 tháng trở lên được tính là 1 năm làm việc. Để hiểu rõ hơn về các quyền lợi liên quan khi chấm dứt hợp đồng, bạn có thể tham khảo Bản án về tranh chấp Bảo hiểm xã hội và các chế độ thôi việc.
Chế độ này được quy định tại Điều 49 Bộ luật Lao động 2012 và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 05/2015/NĐ-CP (đã được sửa đổi bởi Nghị định 148/2018/NĐ-CP).
NLĐ được hưởng trợ cấp mất việc làm khi đáp ứng đủ các tiêu chí: Làm việc thường xuyên cho đơn vị từ đủ 12 tháng trở lên và bị mất việc do đơn vị không thể bố trí công việc phù hợp do các nguyên nhân sau:
Công thức tính như sau:
Trợ cấp mất việc làm = Thời gian tính hưởng trợ cấp x Tiền lương tính trợ cấp
Quy định về mức tối thiểu: Mức hưởng trợ cấp mất việc làm được hưởng thấp nhất bằng 02 tháng tiền lương. Tương tự như trợ cấp thôi việc, thời gian có tháng lẻ cũng được làm tròn (dưới 6 tháng tính là 1/2 năm; từ 6 tháng trở lên tính là 1 năm).
Để tránh nhầm lẫn giữa hai loại chế độ này, dưới đây là bảng so sánh dựa trên các tiêu chí cơ bản:
Mức hưởng tối thiểu
Tiêu chí Trợ cấp thôi việc Trợ cấp mất việc làm Căn cứ pháp lý Điều 48 Bộ luật Lao động 2012 Điều 49 Bộ luật Lao động 2012 Người chi trả Người sử dụng lao động Người sử dụng lao động Đối tượng hưởng NLĐ chấm dứt HĐLĐ theo các trường hợp quy định NLĐ bị mất việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế Điều kiện làm việc Từ đủ 12 tháng trở lên Từ đủ 12 tháng trở lên Theo công thức tính (không quy định mức sàn bằng tháng lương) Ít nhất bằng 02 tháng tiền lương
Việc nắm rõ sự khác biệt giữa hai loại trợ cấp này giúp người lao động bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình khi có sự thay đổi về công việc. Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình quyết toán các chế độ sau khi nghỉ việc, hãy tìm hiểu thêm về quy trình xử lý khi công ty không trả sổ bảo hiểm xã hội để có phương án giải quyết kịp thời.