Điểm mới bảo hiểm xã hội 2019 là nhóm thay đổi quan trọng người lao động và người sử dụng lao động cần lưu ý tại thời điểm năm 2019. Bài viết dưới đây giữ đúng bối cảnh chính sách năm 2019, không áp dụng các văn bản mới ban hành sau thời điểm đó.
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014, bảo hiểm xã hội gồm bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Người tham gia được cấp, quản lý sổ bảo hiểm xã hội; được hưởng các chế độ khi đủ điều kiện; được nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời thông qua cơ quan bảo hiểm xã hội, tài khoản ngân hàng hoặc tổ chức dịch vụ được ủy quyền.
Tại thời điểm năm 2019, mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chịu tác động từ việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng theo Nghị định 157/2018/NĐ-CP. Theo nguyên tắc tại Quyết định 595/QĐ-BHXH, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với công việc giản đơn nhất trong điều kiện bình thường; đối với người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề thì mức lương phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng.
Về mức tối đa, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định nếu tiền lương tháng cao hơn 20 lần mức lương cơ sở thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bằng 20 lần mức lương cơ sở. Từ ngày 01/7/2019, mức lương cơ sở được điều chỉnh lên 1.490.000 đồng/tháng theo Nghị quyết 70/2018/QH14, nên mức tiền lương tối đa đóng BHXH bắt buộc tại thời điểm này là 29.800.000 đồng/tháng.
Khi mức lương cơ sở tăng từ 1.390.000 đồng/tháng lên 1.490.000 đồng/tháng từ ngày 01/7/2019, nhiều khoản trợ cấp tính theo lương cơ sở cũng tăng tương ứng. Có thể kể đến:
Một điểm đáng chú ý của chính sách năm 2019 là việc áp dụng Nghị định 153/2018/NĐ-CP về chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 06 tháng.
Mức điều chỉnh được tính trên cơ sở mức lương hưu tại thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu nhân với tỷ lệ điều chỉnh tương ứng với thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội và thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu. Đây là quy định nhằm xử lý chênh lệch do thay đổi cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu của lao động nữ.
Từ cuối năm 2018, Nghị định 143/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Trong năm 2019, người sử dụng lao động phải đóng 3% vào quỹ ốm đau và thai sản, 0,5% vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trên quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động nước ngoài thuộc diện tham gia.
Theo lộ trình của Nghị định 143/2018/NĐ-CP, từ năm 2022 mới phát sinh phần đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với cả người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài thuộc diện tham gia.