Nghị định số 100/2012/NĐ-CP ngày 21/11/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày ...
Ở Việt Nam không có một đạo luật riêng mang tên "Luật bảo hiểm thất nghiệp"; chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Việc làm được quy định trong Luật Việc làm số 38/2013/QH13 và được hướng dẫn chi tiết bởi Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ. Bài viết tổng hợp những nội dung cốt lõi về chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo khung pháp lý này.
Theo Điều 1 Nghị định 28/2015/NĐ-CP, chính sách bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động; Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp; cùng quyền và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đây là một bộ phận của hệ thống an sinh xã hội, giúp người lao động vượt qua giai đoạn mất việc làm.
Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp có thể được hưởng các chế độ sau:
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và hỗ trợ của Nhà nước. Theo Luật Việc làm, người lao động đóng 1% tiền lương tháng, người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia, và Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% từ ngân sách. Quỹ được sử dụng để chi trả các chế độ nêu trên và chi phí quản lý.
Để hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian quy định, đã nộp hồ sơ tại trung tâm dịch vụ việc làm và chưa tìm được việc làm sau thời hạn luật định. Bạn đọc có thể tham khảo hướng dẫn cụ thể tại bài Thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật.