Cần làm gì khi không nhận được tiền bảo hiểm thất nghiệp? Liên hệ ngay để được luật sư tư vấn và giải đáp miễn phí
Theo quy định pháp luật hiện hành, để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp, người lao động cần thực hiện thủ tục trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Một vấn đề thường gặp là nếu quá thời hạn này, liệu người lao động có bị mất toàn bộ số tiền bảo hiểm thất nghiệp đã đóng hay không? Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết dựa trên các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Để đảm bảo quyền lợi, người lao động cần nắm rõ thời hạn và trình tự nộp hồ sơ. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP, người lao động chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp hồ sơ cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi mình muốn nhận trợ cấp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Người lao động cần chuẩn bị đầy đủ một bộ hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau:
Sau khi nộp đủ hồ sơ, người lao động sẽ quay lại trung tâm dịch vụ việc làm theo ngày ghi trên phiếu hẹn để nhận quyết định hưởng bảo hiểm thất nghiệp và nhận tiền trợ cấp của tháng đầu tiên. Lưu ý, trong những tháng tiếp theo, người lao động phải thực hiện việc thông báo tìm kiếm việc làm định kỳ theo đúng quy định để duy trì chế độ.
Nhiều người lo lắng rằng nếu không nộp hồ sơ trong vòng 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng thì sẽ mất trắng số tiền bảo hiểm đã đóng. Tuy nhiên, pháp luật có quy định cụ thể về việc bảo lưu quyền lợi này.
Căn cứ Khoản 6 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP, trường hợp sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày người lao động hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định nhưng không đến nhận tiền và cũng không thông báo bằng văn bản với cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) nơi đang hưởng, thì người lao động đó được xác định là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Tuy nhiên, điểm quan trọng là: Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tiền trợ cấp mà người lao động không đến nhận sẽ được bảo lưu. Số thời gian này chính là căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi người lao động đủ điều kiện hưởng theo quy định.
Theo Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH, công thức xác định thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu như sau:
Thời gian bảo lưu = Tổng thời gian đóng BHTN – Thời gian đóng BHTN đã hưởng trợ cấp
Như vậy, nếu người lao động không nộp hồ sơ đúng hạn để hưởng trợ cấp ngay, số tiền và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ không bị mất đi mà được tích lũy cho những lần hưởng sau này.
Câu hỏi: Tôi đã đến trung tâm dịch vụ việc làm khai báo và nhận trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên. Sang tháng thứ hai, tôi có thực hiện thủ tục khai báo nhưng vì lý do cá nhân nên không đến nhận tiền được. Đến tháng thứ ba, khi tôi lên khai báo lại và muốn lấy tiền thì tôi có được nhận cả tiền của tháng thứ hai hay không?
Trả lời: Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 9 Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH và Khoản 6 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP, trường hợp của bạn được giải quyết như sau:
Nếu trong tháng thứ hai, bạn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ khai báo tìm kiếm việc làm tại trung tâm dịch vụ việc làm nhưng vì lý do nào đó không đến nhận tiền trợ cấp, thì sang tháng thứ ba, nếu bạn tiếp tục thực hiện việc khai báo bình thường và hợp lệ, bạn sẽ được nhận cả số tiền trợ cấp của tháng thứ hai và tháng thứ ba.
Tóm lại, miễn là bạn vẫn thực hiện đúng nghĩa vụ thông báo tình hình tìm kiếm việc làm định kỳ theo quy định, thì việc chậm trễ trong khâu nhận tiền mặt không làm mất đi quyền lợi hưởng trợ cấp của các tháng đã khai báo hợp lệ. Để hiểu rõ hơn về các chế độ khác, người lao động có thể tham khảo thêm về cách tính tiền hưởng bảo hiểm thất nghiệp.