Bị sa thải có được hưởng bảo hiểm xã hội không? Cần lưu ý những vấn đề pháp lý nào khi sa thải người lao động Phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ...
Bị sa thải có được hưởng bảo hiểm xã hội là thắc mắc thường gặp khi người lao động bị xử lý kỷ luật lao động. Theo bối cảnh pháp luật tại thời điểm bài đăng năm 2020, việc sa thải không làm mất toàn bộ quyền về bảo hiểm xã hội; người sử dụng lao động vẫn phải chốt, xác nhận và trả sổ bảo hiểm xã hội theo quy định của Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 và Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13.
Có. Sa thải là một hình thức xử lý kỷ luật lao động và là căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng không đồng nghĩa với việc người lao động bị tước quyền về bảo hiểm xã hội. Quyền hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào quá trình đóng, điều kiện hưởng từng chế độ và hồ sơ hợp lệ.
Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 ghi nhận người lao động có quyền được tham gia, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội và được cấp, quản lý sổ bảo hiểm xã hội. Vì vậy, sau khi bị sa thải, người lao động vẫn có quyền yêu cầu đơn vị sử dụng lao động hoàn tất thủ tục xác nhận thời gian đóng.
Không. Khoản 3 Điều 47 Bộ luật Lao động 2012 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cùng những giấy tờ khác đã giữ của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Khoản 5 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 cũng yêu cầu người sử dụng lao động phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ và xác nhận thời gian đóng khi người lao động chấm dứt hợp đồng, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc.
Do đó, nếu công ty đã ban hành quyết định sa thải nhưng trì hoãn việc chốt sổ, giữ sổ hoặc không xác nhận quá trình đóng, người lao động có thể khiếu nại đến doanh nghiệp, cơ quan lao động hoặc cơ quan bảo hiểm xã hội để bảo vệ quyền lợi.
Trong bối cảnh năm 2020, Điều 126 Bộ luật Lao động 2012 quy định hình thức xử lý kỷ luật sa thải được áp dụng trong một số trường hợp như: trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc; tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ; tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật; hoặc tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng, 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.
Các lý do chính đáng có thể gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân hoặc thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
Khoản 2 Điều 128 Bộ luật Lao động 2012 cấm dùng hình thức phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động. Vì vậy, nếu doanh nghiệp giữ lương chỉ để “phạt” người lao động sau khi sa thải thì cần xem xét tính hợp pháp của việc khấu trừ. Trường hợp người lao động gây thiệt hại thực tế, việc bồi thường phải căn cứ vào nội quy lao động, hợp đồng, mức thiệt hại và trình tự xử lý theo quy định.
Người bị sa thải vẫn có thể được xem xét hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng đủ điều kiện tại Điều 49 Luật Việc làm số 38/2013/QH13: đã chấm dứt hợp đồng, có đủ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, nộp hồ sơ trong thời hạn và chưa tìm được việc làm sau thời gian luật định. Sa thải không thuộc trường hợp đương nhiên bị loại trừ như đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật hoặc đang hưởng lương hưu.
Điều 155 Bộ luật Lao động 2012 đặt ra cơ chế bảo vệ lao động nữ: người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc người sử dụng lao động không phải cá nhân chấm dứt hoạt động.