Người lao động tham gia làm việc và có đóng bảo hiểm xã hội mà bị người sử dụng lao động Bị sa thải có được hưởng bảo hiểm thất nghiệp không?...
Trợ cấp thất nghiệp khi bị sa thải là vấn đề nhiều người lao động quan tâm. Theo khung pháp luật áp dụng tại thời điểm bài viết gốc đăng năm 2020, người lao động bị sa thải không đương nhiên mất quyền hưởng bảo hiểm thất nghiệp; cần xem họ có đáp ứng đủ điều kiện của Luật Việc làm 2013 hay không.
Những căn cứ chính gồm Luật Việc làm số 38/2013/QH13, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP về bảo hiểm thất nghiệp và Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH. Trường hợp người lao động hỏi thêm về bảo hiểm xã hội một lần thì cần đối chiếu Nghị định số 115/2015/NĐ-CP.
Bài viết giữ bối cảnh pháp luật năm 2020, không thay bằng các quy định sửa đổi, bổ sung ban hành về sau nếu không cần thiết cho tình huống gốc.
Có thể được hưởng, nếu người lao động đáp ứng đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. Điều 49 Luật Việc làm 2013 quy định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện chính sau:
Như vậy, “bị sa thải” là một hình thức chấm dứt quan hệ lao động từ phía người sử dụng lao động. Luật Việc làm 2013 không liệt kê quyết định sa thải là trường hợp bị loại trừ khỏi chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Điểm cần kiểm tra là thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, hồ sơ, thời hạn nộp và tình trạng việc làm sau khi nộp hồ sơ.
Theo quy định áp dụng năm 2020, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp thường gồm:
Người lao động cần nộp hồ sơ tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn luật định. Nếu muốn xem quy trình tổng quát, có thể tham khảo thêm bài thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Nhiều trường hợp nhầm lẫn giữa “bị sa thải” và “người lao động tự ý nghỉ việc trái pháp luật”. Nếu người lao động bị công ty sa thải và có quyết định sa thải thì đây là căn cứ xác nhận việc chấm dứt hợp đồng. Ngược lại, nếu người lao động tự đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật thì thuộc trường hợp không được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo khoản 1 Điều 49 Luật Việc làm 2013.
Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo Bộ luật Lao động 2012, người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng thường phải báo trước ít nhất 45 ngày, trừ một số trường hợp đặc biệt. Vì vậy, nếu người lao động chủ động nghỉ việc, cần lưu ý thời hạn báo trước để tránh rủi ro bị coi là chấm dứt trái pháp luật.
Việc bị sa thải không phải là căn cứ trực tiếp làm mất quyền hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Theo Điều 8 Nghị định 115/2015/NĐ-CP, người lao động có yêu cầu được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc các trường hợp như đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ năm đóng, sau một năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng và không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội, ra nước ngoài định cư, hoặc mắc bệnh nguy hiểm đến tính mạng theo quy định.
Nếu người lao động chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần và tiếp tục đóng tại đơn vị mới, thời gian đã đóng trước đó được cộng nối theo quy định. Khi chấm dứt việc làm ở công ty mới, quyền hưởng các chế độ bảo hiểm sẽ được xem xét trên toàn bộ quá trình tham gia chưa hưởng.