Trước khi mất bố tôi có lập di chúc cho tôi là người được thừa kế hợp pháp căn nhà của bố, tuy nhiên trong di chúc bố tôi ghi rõ là tôi sẽ không được bán căn nhà đó. Vậy tôi có được bán căn nhà này...
Trả lời:
- Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."
- Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
- Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền của người lập di chúc như sau:
“Người lập di chúc có quyền sau đây:
1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
- Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về điều kiện của di chúc hợp pháp như sau:
“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
- Điều 177 Bộ luật Dân sự 2015 quy định điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự như sau:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.
- Khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng thì:
“1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.
Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật”.
- Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 thì quyền sở hữu tài sản được quy định như sau: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”.
Theo quy định của pháp luật thì di chúc hợp pháp có thể là di chúc miệng hoặc di chúc bằng văn bản đáp ứng đủ các điều kiện của di chúc và các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Người lập di chúc có quyền thể hiện ý chí của bản thân trong việc phân định tài sản thuộc về ai và nghĩa vụ đối với tài sản đó sau khi người lập di chúc chết. Đối chiếu với quyền của người lập di chúc thì sẽ có 02 trường hợp xảy ra như sau: Thứ nhất, người lập di chúc chỉ định tài sản đó để thờ cúng. Theo đó, di sản được dùng vào việc thờ cúng thì không được chia thừa kế nữa mà sẽ do người được chỉ định trong di chúc quản lý phần di sản đó. Như vậy, thì di sản dùng vào việc thờ cúng không thể mang đi mua bán; Thứ hai, người lập di chúc để lại di sản và ghi nguyện vọng không cho bán thì việc "không cho bán" ở đây chỉ là nguyện vọng của người để lại di chúc mà không có quy định pháp lý nào ràng buộc đối với người thừa kế di sản. Sau khi được thừa kế hợp pháp di sản thì người đó sẽ có quyền sở hữu đối với di sản mà mình được thừa kế. Trong trường hợp này, bố anh để lại di chúc có ghi rõ rằng căn nhà đó dùng vào việc thờ cúng thì anh không thể bán căn nhà đó được. Nhưng nếu trong di chúc không phân định rõ căn nhà dùng vào mục đích thờ cúng thì anh vẫn có thể chuyển nhượng quyền sở hữu nếu anh là người thừa kế hợp pháp của tài sản đó.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh