Trong quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, việc xác định và phân bổ nguồn lực tài chính đóng vai trò then chốt. Căn cứ vào các nguyên tắc, mục tiêu và định hướng đầu tư công của giai đoạn hiện hành, các Bộ, ngành và địa phương thực hiện lựa chọn danh mục cũng như bố trí vốn kế hoạch đầu tư trung hạn từ các nguồn vốn khác nhau theo thứ tự ưu tiên cụ thể. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp các thông tin pháp lý về khái niệm và các quy định liên quan đến vốn trung hạn.
Khái niệm vốn đầu tư trung hạn là gì?
Vốn trung hạn thường được hiểu dưới hai góc độ: góc độ tín dụng và góc độ quản lý ngân sách nhà nước.
- Dưới góc độ tín dụng: Vốn trung hạn là hình thức cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến dưới 60 tháng. Đây là giải pháp tài chính quan trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu vay trả góp để thực hiện các dự án đầu tư nhằm mở rộng quy mô và hoạt động kinh doanh.
- Dưới góc độ quản lý nhà nước: Trong lĩnh vực đầu tư công là gì, vốn trung hạn được hiểu là nguồn lực tài chính được lập kế hoạch và phân bổ cho một chu kỳ nhiều năm (thường là 5 năm) nhằm thực hiện các dự án đầu tư công, đảm bảo tính liên tục và bền vững của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
Các nguồn vốn đầu tư công trung hạn theo quy định pháp luật
Dựa trên các quy định tại Nghị định số 77/2015/NĐ-CP và các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 120/2018/NĐ-CP, nguồn vốn đầu tư công bao gồm các thành phần chính sau:
- Vốn ngân sách nhà nước: Bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách trung ương cấp cho các Bộ, ngành trung ương; vốn bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho địa phương và vốn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương.
- Vốn từ công trái quốc gia: Khoản vốn do Nhà nước vay trực tiếp từ người dân thông qua chứng chỉ có kỳ hạn để phục vụ các mục tiêu phát triển đất nước.
- Vốn từ trái phiếu Chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương: Các khoản huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu của Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhằm thực hiện các dự án trọng điểm.
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi: Bao gồm viện trợ không hoàn lại, vốn vay ODA và các khoản vay ưu đãi từ Chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chế quốc tế.
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Các khoản cho vay từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội.
- Các nguồn thu để lại cho đầu tư khác: Tiền lãi dầu khí (từ hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí - PSC), lợi nhuận liên doanh dầu khí và tiền đọc tài liệu dầu khí. Nguồn thu từ đơn vị sự nghiệp công lập được để lại để tái đầu tư. Vốn từ nguồn thu cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước được trích lại để đầu tư hạ tầng. Nguồn thu từ tổ chức tài chính, bảo hiểm xã hội được trích lại để đầu tư.
Nguyên tắc bố trí vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn
Việc bố trí vốn phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước, cụ thể:
- Nhằm thực hiện mục tiêu, định hướng phát triển trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đã được phê duyệt.
- Tuân thủ các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn do cấp có thẩm quyền quyết định.
- Tập trung nguồn lực để hoàn thành và đẩy nhanh tiến độ các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia và các dự án trọng điểm của đất nước.
Trong từng ngành, lĩnh vực, việc bố trí vốn được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau:
- Dự án đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn.
- Vốn đối ứng cho các dự án sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi từ nhà tài trợ nước ngoài.
- Vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư (PPP).
- Các dự án chuyển tiếp đang thực hiện theo tiến độ đã được phê duyệt.
- Các dự án dự kiến sẽ hoàn thành trong kỳ kế hoạch.
- Các dự án khởi công mới (nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý về vốn và tiến độ).
Điều kiện để chương trình, dự án được bố trí vốn hằng năm
Để một dự án được đưa vào kế hoạch bố trí vốn đầu tư công hằng năm, cần phải đáp ứng các điều kiện khắt khe theo quy định của pháp luật về đầu tư công:
- Điều kiện chung: Phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 56 của Luật Đầu tư công.
- Đối với dự án khởi công mới, cần đảm bảo thêm: Chương trình, dự án phải thực sự cần thiết và có đủ điều kiện để được bố trí vốn kế hoạch. Việc bố trí vốn phải được thực hiện sau khi đã ưu tiên thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản. Phải bảo đảm khả năng bố trí đủ vốn để hoàn thành dự án theo đúng tiến độ đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.