Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định một số nội dung mới về việc tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) áp dụng từ kỳ tính thuế ...
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một trong những loại thuế quan trọng nhất mà các tổ chức, đơn vị kinh doanh có nghĩa vụ thực hiện đối với ngân sách Nhà nước. Việc nắm vững các quy định về cách tính, mức thuế suất và trách nhiệm kê khai là yếu tố then chốt để doanh nghiệp đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật và tối ưu hóa chi phí hoạt động.
Tại thời điểm năm 2021, các quy định về thuế TNDN được thực hiện dựa trên nền tảng của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp cùng các văn bản hướng dẫn thi hành như Văn bản hợp nhất số 26/VBHN-BTC ngày 14/09/2015 của Bộ Tài chính. Dưới đây là các nội dung trọng tâm về phương pháp tính và mức thuế suất áp dụng.
Để xác định số thuế TNDN phải nộp, doanh nghiệp cần thực hiện tính toán qua các bước từ doanh thu, chi phí đến thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế. Cụ chế này được cụ thể hóa nhằm phản ánh chính xác nghĩa vụ thuế dựa trên kết quả kinh doanh thực tế.
Số tiền thuế TNDN mà doanh nghiệp có trách nhiệm nộp được xác định theo công thức sau:
Việc cách hạch toán chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản thu nhập khác cần tuân thủ đúng trình tự sau:
Mức thuế suất TNDN có sự phân hóa tùy thuộc vào quy mô doanh thu của đơn vị kinh doanh. Theo các quy định tại thời điểm này, quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành cần lưu ý các mức sau:
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 17 Thông tư số 151/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính (có hiệu lực từ quý 4/2014), doanh nghiệp không còn phải nộp tờ khai thuế TNDN tạm tính quý. Thay vào đó, doanh nghiệp chỉ cần thực hiện tạm nộp số tiền thuế TNDN phát sinh trong quý, thời hạn chậm nhất là ngày thứ 30 của quý tiếp theo.
Chỉ tiêu H trên tờ khai quyết toán thuế TNDN phản ánh sự chênh lệch giữa số thuế đã tạm nộp trong năm và số thuế thực tế phải nộp sau khi quyết toán. Việc xử lý phần chênh lệch này được chia thành hai trường hợp pháp lý cụ thể:
Nếu tổng số tiền thuế TNDN đã tạm nộp trong các quý thấp hơn số thuế phải nộp theo quyết toán năm từ 20% trở lên, doanh nghiệp sẽ bị tính tiền chậm nộp đối với phần chênh lệch vượt quá ngưỡng 20% đó. Tiền chậm nộp được tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế quý 4.
Ví dụ: Năm 2015, một doanh nghiệp tạm nộp 100 triệu đồng. Khi quyết toán năm, số thuế thực tế phải nộp là 150 triệu đồng (tăng 50 triệu đồng).
- Ngưỡng 20% của số thuế quyết toán là: 150 triệu x 20% = 30 triệu đồng.
- Phần chênh lệch vượt ngưỡng 20% là: 50 triệu - 30 triệu = 20 triệu đồng.
=> Doanh nghiệp phải nộp thêm 50 triệu đồng tiền thuế, đồng thời bị tính tiền chậm nộp đối với số tiền 20 triệu đồng kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của kỳ nộp thuế quý 4/2015.
Nếu phần chênh lệch giữa số thuế quyết toán và số đã tạm nộp thấp hơn 20%, doanh nghiệp chỉ phải nộp bổ sung số tiền thiếu. Tuy nhiên, nếu việc nộp số tiền này chậm so với thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế năm theo quy định, doanh nghiệp vẫn bị tính tiền chậm nộp trên số thuế còn thiếu kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đến ngày thực nộp.
Đối với trường hợp doanh nghiệp nộp thừa, số tiền này sẽ được coi là số thuế tạm nộp của năm kế tiếp hoặc doanh nghiệp có thể làm thủ tục hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp theo đúng trình tự pháp luật quy định.