Đối tượng không chịu thuế GTGT là những loại vật tư, hàng hoá dùng cho các lĩnh vực như: Khuyến khích sản xuất nông nghiệp phát triển
Trong hệ thống thuế giá trị gia tăng (GTGT) tại Việt Nam, ba khái niệm thuế suất 0%, miễn thuế và không chịu thuế thường bị nhầm lẫn. Việc phân biệt thuế suất 0%, miễn thuế và không chịu thuế trong thuế GTGT giúp doanh nghiệp kê khai đúng nghĩa vụ, xác định quyền khấu trừ và hoàn thuế đầu vào. Bài viết dưới đây làm rõ bản chất pháp lý của từng nhóm theo Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 và các văn bản sửa đổi, hướng dẫn.
Đối tượng không chịu thuế GTGT là những loại vật tư, hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật không xếp vào diện chịu thuế, thường thuộc các lĩnh vực: khuyến khích sản xuất nông nghiệp; tư liệu sản xuất trong nước chưa sản xuất được; dịch vụ thiết yếu phục vụ đời sống người dân không mang tính kinh doanh; và các hoạt động liên quan đến nhân đạo.
Đặc điểm pháp lý của nhóm này:
Thuế suất 0% là mức thuế áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình của doanh nghiệp chế xuất; hàng bán cho cửa hàng miễn thuế; vận tải quốc tế; và hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu (trừ một số trường hợp ngoại lệ theo quy định).
Khác với nhóm không chịu thuế, hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất 0%:
Miễn thuế là trường hợp hàng hóa, dịch vụ vẫn thuộc đối tượng chịu thuế nhưng vì lý do khách quan được miễn giảm một phần nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của nhóm này:
Như vậy, điểm mấu chốt để phân biệt là quyền kê khai và khấu trừ, hoàn thuế đầu vào: chỉ riêng nhóm không chịu thuế là không được khấu trừ. Doanh nghiệp cần xác định đúng nhóm để tránh sai sót khi lập hồ sơ thuế.