Phân biệt tên doanh nghiệp và tên thương mại của doanh nghiệp theo quy định mới nhất hiện nay. Liên hệ ngay để được tư vấn

Trong quá trình thực hiện các thủ tục thành lập và vận hành, các chủ thể kinh doanh thường có sự nhầm lẫn giữa tên doanh nghiệp và tên thương mại. Mặc dù cả hai đều là những danh xưng dùng để nhận diện, nhưng về mặt pháp lý, chúng thuộc các phạm vi điều chỉnh khác nhau và có những đặc điểm định danh riêng biệt.
Để hiểu rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm này, cần xem xét dựa trên nhiều tiêu chí từ cơ sở pháp lý đến chức năng sử dụng. Dưới đây là bảng so sánh chi tiết:
trưởng
Tiêu chí Tên doanh nghiệp Tên thương mại Luật điều chỉnh Luật Doanh nghiệp 2014; Nghị định số 78/2015/NĐ-CP. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009). Thành tố cấu thành Bao gồm 02 thành phần: Loại hình doanh nghiệp (Công ty TNHH, Công ty Cổ phần...) và Tên riêng. Không quy định cụ thể về cấu trúc, nhưng bắt buộc phải chứa thành phần tên riêng. Chức năng Dùng để phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác; là tên chính thức trong các giao dịch pháp lý và hoạt động của tổ chức. Dùng để phân biệt chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh (nơi có khách hàng, đối tác hoặc danh tiếng). Căn cứ xác lập Thông qua thủ tục đăng ký kinh doanh và được ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Được công nhận thông qua việc sử dụng hợp pháp trong hoạt động kinh doanh thực tế. Phạm vi bảo hộ Được bảo hộ trên phạm vi toàn quốc. Được bảo hộ trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh nhất định. Điều kiện bảo hộ Không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp khác theo quy định tại Điều 17 Nghị định 78/2015/NĐ-CP; được cơ quan đăng ký kinh doanh chấp thuận. Phải có khả năng phân biệt; không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã sử dụng trước đó, hoặc với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ. Ví dụ Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng HT Công ty HT
Việc lựa chọn tên doanh nghiệp là nội dung quan trọng trong hồ sơ đăng ký thành lập. Dựa trên các quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định 78/2015/NĐ-CP, tên doanh nghiệp bị coi là trùng hoặc gây nhầm lẫn nếu thuộc các trường hợp:
Doanh nghiệp không bắt buộc phải có tên bằng tiếng nước ngoài hoặc tên viết tắt. Việc sử dụng các thành tố này tùy thuộc vào nhu cầu của chủ sở hữu, tuy nhiên nếu có thì tên viết tắt phải được xây dựng từ tên tiếng Việt hoặc tên tiếng nước ngoài và không được trùng với các doanh nghiệp đã tồn tại trên hệ thống.
Để hạn chế rủi ro bị từ chối hồ sơ, doanh nghiệp nên tiến hành tra cứu thông tin tại Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Việc kiểm tra này giúp xác định phần tên riêng có đang bị trùng lặp hay không, tránh các tranh chấp pháp lý phát sinh sau khi thành lập.
Theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, tên doanh nghiệp phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm kinh doanh. Đồng thời, tên này phải được in hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và các ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành để đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động cố vấn pháp lý doanh nghiệp và giao dịch với bên thứ ba.
Tóm lại, việc phân biệt rõ tên doanh nghiệp (dùng cho tư cách pháp nhân) và tên thương mại (dùng cho nhận diện thương hiệu) sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả nhất.