Luật Doanh nghiệp 2020 số 59/2020/QH14 đã được Quốc hội thông qua ngày 17/06/2020. Liên hệ Hotline:0936037464 để được hỗ trợ tư vấn.
Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 17/06/2020 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. So với Luật Doanh nghiệp 2014, văn bản pháp luật mới này đã mang đến nhiều thay đổi quan trọng về quản trị, thành lập và hoạt động của các loại hình tổ chức kinh doanh tại Việt Nam.
Một trong những cải cách hành chính đáng chú ý nhất là việc bãi bỏ nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu doanh nghiệp trước khi sử dụng. Theo quy định tại Điều 43 Luật Doanh dụng nghiệp 2020, doanh nghiệp không còn phải thực hiện thủ tục thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp như trước đây.
Tại Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, danh sách các đối tượng bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp đã được bổ sung thêm nhằm đảm bảo tính minh bạch và an toàn pháp lý. Các đối tượng mới bao gồm:
Quy định về việc tạm ngừng hoạt động đã có sự điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn cho doanh nghiệp. Theo Điều 206, doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày dự kiến tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo. Quy định này rút ngắn đáng kể so với thời hạn 15 ngày theo Luật Doanh nghiệp 2014.
Luật Doanh nghiệp 2020 đã tái định nghĩa lại phạm vi của loại hình này. Cụ thể, tại Khoản 11 Điều 4, doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Điều này khác biệt so với quy định cũ là Nhà nước phải nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Về cơ cấu tổ chức, tại Khoản 1 Điều 103, tùy theo quy mô, cơ quan đại diện chủ sở hữu có thể quyết định thành lập Ban kiểm soát gồm từ 01 đến 05 Kiểm soát viên (có Trưởng ban), thay vì quy định cứng về số lượng 03 đến 05 người như trước đây.
Luật mới tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện quyền tại công ty cổ phần. Cụ thể, Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 quy định: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên (hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo Điều lệ) sẽ có các quyền của cổ đông phổ thông theo quy định tại Khoản 2 Điều 115. So với Luật 2014, tỷ lệ này đã giảm từ 10% xuống còn 5%, giúp tăng cường vai trò giám sát của cổ đông.
Đặc biệt, mọi cổ đông (không nhất thiết phải sở hữu cổ phần liên tục trong 01 năm) đều có quyền yêu cầu Tòa án đình chỉ hoặc hủy bỏ các nghị quyết của Hội đồng quản trị nếu các nghị quyết đó trái pháp luật, trái Điều lệ hoặc nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông (Điều 153).
Tại Điều 119, Luật bổ sung thêm trách nhiệm mới cho cổ đông: phải có nghĩa vụ bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệ và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin đó để thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình; nghiêm cấm việc sao chép hoặc phát tán thông tin cho bên thứ ba khi chưa được phép.
Điều 114 bổ sung quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết. Trong đó, cổ phần phổ thông đóng vai trò là tài sản cơ sở để phát hành loại chứng chỉ này. Người nắm giữ chứng chỉ lưu ký sẽ hưởng các lợi ích kinh tế và chịu các nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổ thông cơ sở, nhưng không bao gồm quyền biểu quyết.
Luật Doanh nghiệp 2020 mở rộng lộ trình phát triển cho các chủ sở hữu nhỏ. Theo Điều 205, doanh nghiệp tư nhân hiện nay có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoặc công ty hợp danh nếu đáp ứng đủ các điều kiện pháp lý. Điều này tạo ra sự linh hoạt lớn hơn so với quy định cũ vốn chỉ cho phép chuyển đổi sang loại hình công ty TNHH.
Nhằm nâng cao tính trách nhiệm trong quản trị, Điều 165 bổ sung các chế tài đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc và người quản lý khác. Nếu vi phạm các quy định pháp luật hoặc Điều lệ, những cá nhân này phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường thiệt hại, hoàn trả lợi ích đã nhận và đền bù các tổn thất gây ra cho công ty.
Tại Điều 53, luật có những điều chỉnh quan trọng về việc xử lý vốn góp khi thành viên gặp biến cố pháp lý: