Khi nào thì công ty được ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với cá nhân? Legalzone sẽ giúp bạn giải đáp những thắc mắc trên trong bài viết dưới đây.

Trong hoạt động kinh tế, việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác giữa các chủ thể là yếu tố then chốt để mở rộng quy mô sản xuất và tận dụng nguồn lực. Một trong những hình thức phổ biến là ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Tuy nhiên, một vấn đề pháp lý thường xuyên được đặt ra là: Doanh nghiệp có được phép ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh với cá nhân hay không? Bài viết dưới đây sẽ phân tích dựa trên các quy định của Luật Đầu tư 202 trả về thời điểm năm 2022.
Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) được hiểu là loại hợp đồng được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm mục đích phối hợp thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phân chia lợi nhuận hoặc phân chia sản phẩm theo thỏa thuận. Điểm đặc trưng của hình thức này là các bên tham gia không thành lập một tổ chức kinh tế hay pháp nhân mới để thực hiện dự án.
Căn cứ theo khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, chủ thể của hợp đồng BCC là các nhà đầu tư. Nhà đầu tư có thể bao gồm nhiều loại hình khác nhau, cụ thể:
Như vậy, về mặt pháp lý, cá nhân và doanh nghiệp đều có thể đóng vai trò là nhà đầu tư. Việc xác định rõ tư cách pháp nhân là gì và vai trò của từng chủ thể là cực kỳ quan trọng để xác lập quyền và nghĩa vụ hợp pháp trong hợp đồng.
Dựa trên các quy định về nhà đầu tư nêu trên, câu trả lời là CÓ. Mọi cá nhân (trong nước hoặc nước ngoài) và mọi tổ chức (từ doanh nghiệp nhà nước đến tư nhân) đều có quyền ký kết hợp lập hợp đồng BCC với nhau, miễn là hoạt động đầu tư đó không thuộc danh mục ngành nghề bị pháp luật cấm.
Điều này có nghĩa là một công ty có thể tìm kiếm đối tác là các cá nhân để cùng triển khai dự án mà không cần phải thành lập một liên doanh mới. Tuy nhiên, khi thực hiện các giao dịch này, doanh nghiệp cần lưu ý đến năng lực tài chính của doanh nghiệp để đảm bảo khả năng thực hiện các cam kết đóng góp vốn hoặc tài sản trong hợp đồng.
Để đảm bảo tính pháp lý và tránh tranh chấp, tại khoản 1 Điều 28 Luật Đầu tư 2020 quy định nội dung của hợp đồng BCC phải bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
Pháp luật cũng cho phép các bên được thỏa thuận thêm các nội dung khác, miễn là không trái với quy định pháp luật hiện hành.
Một vấn đề quan trọng cần lưu ý là trách nhiệm kê khai và nộp thuế. Theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, khi một tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân theo hình thức BCC, nghĩa vụ thuế được phân định như sau:
Cá nhân tham gia hợp tác không trực tiếp thực hiện việc khai thuế. Thay vào đó, tổ chức (doanh nghiệp) có trách nhiệm kê khai thuế giá trị gia tăng đối với toàn bộ doanh thu phát sinh từ hoạt động hợp tác kinh doanh theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Đồng thời, tổ chức này cũng có nghĩa vụ khấu trừ, khai thay và nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho cá nhân tham gia hợp tác dựa trên phần lợi nhuận được chia.
Việc nắm vững các quy định này giúp doanh nghiệp tránh được các sai sót trong quản lý tài chính và tuân thủ đúng trách nhiệm với ngân sách nhà nước.