Tư cách tham gia tố tụng dân sự được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Vậy việc xác định tư cách tham gia tố tụng dân sự
Trong quá trình giải quyết các tranh chấp, việc xác định chính xác tư cách của các chủ thể là yếu tố then chốt để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tư cách tham gia tố tụng được phân định rõ ràng dựa trên mối quan hệ giữa các chủ thể với đối tượng tranh chấp hoặc yêu cầu giải quyết.
Đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây là những cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chính mình, hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nguyên đơn trong vụ án dân sự được xác định là người khởi kiện hoặc người được các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (theo quy định của pháp luật) khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án khi cho rằng quyền và lợi kết hợp hợp pháp của họ bị xâm phạm. Ngoài ra, nguyên đơn còn bao gồm các cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện nhằm bảo vệ lợi ích công cộng hoặc lợi ích Nhà nước trong lĩnh vực mình quản lý.
Để một chủ thể được xác định là nguyên đơn, cần hội đủ các đặc điểm sau:
Hoạt động tố tụng của nguyên đơn thường mang tính chủ động cao, có khả năng dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ các quan hệ tố tụng.
Căn cứ theo Khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (theo quy định của pháp lập) khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.
Một chủ thể được xác định là bị đơn khi đáp ứng hai điều kiện: là đối tượng bị khởi kiện bởi bên có thẩm quyền và là bên được giả thiết là đã có hành vi xâm phạm hoặc gây ra tranh chấp đối với quyền lợi của nguyên đơn. Tùy vào tính chất vụ việc, việc xác định bị đơn sẽ có những đặc thù riêng:
Việc xác định bị đơn phụ thuộc vào các điều kiện luật định về nghĩa vụ. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chính không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ khi đến hạn, chủ nợ có thể khởi kiện người bảo lãnh để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự.
Bị đơn thường là bên vi phạm quyền sở hữu của chủ thể khác. Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, chủ sở hữu có quyền khởi kiện người chiếm hữu ngay tình để đòi lại tài sản trong các trường hợp cụ thể như: hợp đồng không có đền bù từ người có quyền định đoạt, hoặc tài sản bị lấy cắp, bị mất, bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu. Việc xác định đúng đối tượng này cũng cần lưu ý đến điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự liên quan đến việc chuyển giao tài sản.
Bị đơn là người có trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật. Đặc biệt, đối với thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, bị đơn có thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hoặc người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao đó.
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những chủ thể tuy không trực tiếp khởi kiện và cũng không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự lại có tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ. Họ có thể tham gia tố tụng theo hai cách:
Lưu ý rằng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có được từ bỏ tư cách tham gia tố tụng dân sự của mình không là một vấn đề pháp lý cần xem xét kỹ dựa trên tính chất của vụ án. Ngoài ra, việc xác định tư cách này cũng cần phân biệt rõ với các bên trong thủ tục tiến hành hòa giải theo quy định tố tụng dân sự để đảm bảo tính khách quan.
Khác với vụ án dân sự (có tranh chấp), trong việc dân sự, các chủ thể được xác định như sau: