Hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định
Hợp đồng hợp tác là một trong những hợp đồng thông dụng được ghi nhận trong pháp luật dân sự Việt Nam, ra đời từ nhu cầu tập hợp nguồn lực của nhiều chủ thể để cùng sản xuất, kinh doanh. Theo quy định tại Điều 504 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm; hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản.
Hợp đồng hợp tác đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2005 tại phần quy định về chủ thể tổ hợp tác. Đến Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng hợp tác lần đầu tiên được dành một mục riêng trong Chương XVI về các hợp đồng thông dụng, cho thấy nhà làm luật đã nâng tầm vai trò của loại hợp đồng này. Một điểm thay đổi quan trọng là về số lượng chủ thể: theo Điều 111 Bộ luật Dân sự năm 2005, chủ thể của hợp đồng hợp tác phải từ ba cá nhân trở lên; còn Bộ luật Dân sự năm 2015 không ấn định cụ thể, nên theo nguyên tắc chung chỉ cần từ hai chủ thể trở lên.
Ngoài ra, kết quả của hợp đồng hợp tác cũng khác nhau giữa hai bộ luật: Bộ luật Dân sự năm 2005 coi hợp đồng hợp tác là cơ sở hình thành chủ thể "tổ hợp tác", còn Bộ luật Dân sự năm 2015 không thừa nhận tổ hợp tác là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.
Theo Điều 505 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng hợp tác nên có các nội dung chủ yếu sau:
Việc ghi nhận rõ tỷ lệ đóng góp tài sản, công sức là căn cứ pháp lý quan trọng để phân chia lợi nhuận và xác định trách nhiệm về sau, hạn chế tranh chấp giữa các thành viên.
Để thực hiện công việc hợp tác, mỗi thành viên có thể thỏa thuận đóng góp một phần tài sản và cùng tạo lập khối tài sản chung. Tài sản đóng góp có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản. Điều 506 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc về việc hình thành, định đoạt và phân chia khối tài sản chung này. Đáng lưu ý, việc định đoạt tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên.
Theo Điều 507 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thành viên hợp tác có các quyền, nghĩa vụ cơ bản: được hưởng hoa lợi, lợi tức từ hoạt động hợp tác; được tham gia quyết định và giám sát hoạt động hợp tác; phải bồi thường thiệt hại cho các thành viên khác do lỗi của mình gây ra; và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng.
Điều 512 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hợp đồng hợp tác chấm dứt trong các trường hợp: theo thỏa thuận của các thành viên; hết thời hạn ghi trong hợp đồng; mục đích hợp tác đã đạt được; theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Khi chấm dứt, các nghĩa vụ tài sản được thanh toán từ khối tài sản chung; nếu không đủ, các thành viên phải dùng tài sản riêng; phần còn lại sau thanh toán được chia theo tỷ lệ đóng góp, trừ khi có thỏa thuận khác.