📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Thông tư liên tịchCòn hiệu lực

Thông tư liên tịch số 41-TT/LB Về việc khóa sổ thu, chi ngân sách nhà nước cuối năm 1975

📄 Số hiệu: 41-TT/LB🏛️ Bộ Tài chính📅 10/12/1975

Thuộc tính văn bản

Số hiệu41-TT/LB
Loại văn bảnThông tư liên tịch
NgànhTài chính
Lĩnh vựcQuản lý ngân sách
Cơ quan ban hànhBộ Tài chính
Người kýLê Đức — Thứ trưởng
Ngày ban hành10/12/1975
Ngày hiệu lực10/12/1975

Trích yếu nội dung

Thông tư liên tịch số 41-TT/LB Về việc khóa sổ thu, chi ngân sách nhà nước cuối năm 1975

Nội dung toàn văn

BỘ TÀI CHÍNH

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 41-TT/LB

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 1975

THÔNG TƯ LIÊN BỘ
Về việc khóa sổ thu ngân sách nhà nước cuối năm 1975
________________________

Tại thông tư số 16-TT/LB ngày 12-12-1973 (*) , liên bộ Tài chính – Ngân hàng Nhà nước đã hệ thống hóa toàn bộ những điều quy định về việc khóa sổ thu, chi ngân sách Nhà nước hàng năm. Liên bộ gửi kèm theo đây bản sao thông tư nói trên để các ngành, các cấp nghiên cứu sử dụng và chấp hành đúng, mục tiêu hoàn thành kế hoạch tốt, chi ngân sách năm 1975. Căn cứ đặc điểm hình năm nay và rút kinh nghiệm công việc khóa sổ thu, chi ngân sách Nhà nước những năm gần đây, liên kết bộ sức mạnh và quy định thêm một số điểm như sau:

1. Năm 1975 đối với hai Tỉnh Quảng trị và Thừa Thiên – Huế, công việc khóa thu, chi ngân sách Nhà nước hàng năm phải thi hành đầy đủ các quy định trong thông tin số 16-TT/LB nói trên. Cơ quan tài chính và ngân hàng Nhà nước ở hai tỉnh Trị Thiên có trách nhiệm phổ biến và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị dự toán, các doanh nghiệp công, nông, lâm trường trong tỉnh (cung cả các đơn vị ngân sách trung đóng tại phương pháp) chấp thuận đặc biệt chú ý đô đốc có đủ các tài khoản phải vào ngân sách, thanh toán các khoản vay nợ, thu hồi các tài khoản cho vay, tạm ứng, kinh phí và tiền mặt trước ngày, giờ khóa sổ của ngân hàng Nhà nước. Tiếp đó, các cơ quan tài chính, ngân hàng Nhà nước tỉnh tiến hành những công việc phải làm sau khi khóa sổ (như điện báo, báo cáo, đối số tài liệu quyết định…) tính toán đúng các quy định hiện hành.

Đối với các tỉnh, thành phố từ Quảng Đà trở vào Nam bộ, công tác khóa sổ cuối năm chủ yếu là người thúc đẩy công việc giữa các cơ quan, vị trí xí nghiệp với ngân sách, xác định số thu, chi, tồn tại ngân sách địa phương và ngân sách trung tâm đến ngày 31-12-1975, những số tiền ngân sách địa phương chi bộ cho ngân sách trung tâm và ngược lại, để làm cơ sở chuyển đổi sổ sách kế toán ngày 1-1-1976 và làm cơ sở cho việc quản lý ngân sách Nhà nước thống nhất từ ​​năm 1976 trở đi.

2. Đối với việc cung cấp khu vực được giải thể và các tỉnh, thành phố được phép nhập lại các tỉnh mới, công việc thanh toán, khóa thu, chi ngân sách tại các cơ quan ngân hàng Nhà nước thuộc các tỉnh, thành phố có liên quan phải đảm bảo nguyên tắc là: khi giải thể hoặc nhập, tất cả các cơ quan, đơn vị, hoạt động tính toán phải được thanh toán trong toàn bộ sổ sách cho ngân sách hiện tại, toàn bộ số, kinh phí và tài sản nhận. Cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp được cấp ngân sách bất kỳ, địa phương nào phát hiện, phải thanh toán với ngân sách cấp đó, địa phương đó. Tiếp theo, từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phải lập báo cáo quyết định thu ngân sách đúng đắn, chi ngân sách từ đầu năm đến ngày giải quyết hoặc nhập vào đơn vị mới, theo thể thức định quy định trong chế độ kế hoạch mà cơ sở toán toán, đơn vị, doanh nghiệp hiện đang áp dụng.

3. Những việc cần làm tốt sau đây:

a) Phải tận thu, tận thu, tích cực thu hồi vốn, kinh phí khai thác, nghiên cứu để chống “chi tiêu bước ống”, “chạy kinh phí”, triệt để tiết kiệm ngân sách:

Đến đây, bên cạnh một số đơn vị có thành tích lo lắng đảm bảo việc thu thập các khoản thu ngân sách Nhà nước và tích cực trả tiền ngân sách, kinh phí thừa, vẫn còn hiện tượng drift lạc như:

- Chưa tận dụng, tận dụng các khoản phải thu cho ngân sách;

- Chưa chú ý thanh toán các tài khoản tạm thời, tạm thời;

- Vẫn còn nhiều trường hợp tranh thủ chi “vét kinh phí”, chi “chạy hạn” trước khi hết năm;

- Chưa kê khai rõ ràng dư thừa tiền gửi ở ngân hàng theo quy định đúng đắn của thông tin tư liên Bộ Tài chính chính – Hàng Nhà nước số 16-TT/LB ngày 12-12-1973, thậm chí chí có đơn vị không kê khai;

- Còn lại việc thư giãn để thu hồi ngân sách tất cả các tài khoản có nguồn gốc là tiền thuộc ngân sách ngân sách.

Năm nay, các đơn vị quản lý cấp I ở trung lượng, các Sở, Ty tài chính và Ngân hàng Nhà nước tỉnh và thành phố cần làm tốt việc phổ biến lại mục tiêu, ý nghĩa của công việc khóa cửa sổ chi ngân sách Nhà nước cuối năm và nhất là nội dung các công việc phải làm theo thông tin tư liên bộ số 16-TT/LB để thực hiện điều chỉnh nghiêm trọng; Phải lùi lại nhiệm vụ thu thập cả năm 1975 để hoàn thành kế hoạch ngân sách năm 1975.

b) Kê khai tồn tại các tài khoản tiền gửi :

Đối với Sở, Ty tài chính : phần II mục 3 điểm d thông tin liên kết số 16-TT/LB đã được xác định bởi các Sở, Ty tài chính phải lập bảng kê khai số dư tài khoản 733 phân tích rõ ràng hai phần:

- Phần tiền gửi về kinh phí, vốn của bản thân tài chính;

- Phần tiền gửi về các tài khoản của các bộ hoặc tổng địa chỉ ở trung tâm chuyển quyền cho địa phương quản lý.

Trong năm qua, nhiều Sở, Ty tài chính chưa lập bảng kê khai, chưa báo cáo với Bộ Tài chính, nhưng các cơ quan ngân hàng Nhà nước địa phương vẫn cho chuyển sang năm sau sử dụng mặc dầu không có ý kiến ​​kiến ​​trúc của Bộ Tài chính.

Cuối năm 1975 này và từ nay về sau, các Sở, Ty tài chính cần làm chug việc kê khai số dư tiền gửi về các tài khoản làm các bộ, tổng cục ở trung tâm ủy quyền cho địa phương quản lý, có phân tích và đề xuất cụ thể về từng tài khoản xin chuyển sang năm sau hoặc trả lại ngân sách, để Bộ Tài chính chính có cơ sở dữ liệu tương tự các bộ, tổng giám đốc quản lý. Cơ quan ngân hàng Nhà nước tỉnh và thành phố chỉ được phép chuyển sang năm sau và trích ra sử dụng các khoản vốn, kinh phí này khi có văn bản xét duyệt cụ của Bộ Tài chính (Vụ quản lý ngân sách). Tất cả các trường hợp đều không có ý kiến ​​kiểm duyệt của Bộ Tài chính (Vụ quản lý ngân sách), thì dù Sở, Ty tài chính đã lập bảng thống kê, cơ quan ngân hàng Nhà nước nhất thiết bị không cho trích ra sử dụng.

Đối với cơ quan ngân hàng Nhà nước : các cơ quan ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính để làm tốt việc thu hồi vốn, kinh phí cho các cấp ngân sách hoặc chuyển số dư sang năm sau cho các đơn vị chi tiêu sau khi có ý kiến ​​của Bộ hoặc Sở, Ty tài chính, tránh tự động chuyển sang năm sau không có sự kiểm duyệt của cơ quan tài chính; cần xử lý vấn đề nghiêm trọng như quy định ở chế độ cơ bản, đơn vị cố ý không chấp nhận hành động đúng.

Ngân hàng Nhà nước các cấp cần chấn chỉnh công việc chấp hành các quy định của thông tư liên bộ, đặc biệt chú ý nhất là phổ biến cho các đơn vị thường xuyên đến giao dịch kê khai phù hợp, lấy ý kiến ​​​​giám duyệt đầy đủ của cơ quan tài chính để ngân hàng Nhà nước có cơ sở xử lý cho chế độ đúng.

c) Dữ liệu đối số, xác thực tồn tại của quỷ và kết nối ngân sách địa phương :

Thông tư liên Bộ Tài chính chính – Ngân hàng Nhà nước số 47 ngày 24-9-1975 đã xác định việc xác định tồn tại và kết thúc dư cuối năm. Số tồn tại cuối năm tại ngân hàng, phân tách phần thu trước của năm sau, cộng với phân cấp tài khoản trước cho năm sau và các tài khoản thu hồi giảm cấp, thu hồi tạm thời phản ứng trong thời gian chỉnh sửa…nhất thiết bị phải bằng số dư của năm đó. Sở, Ty tài chính và cơ quan ngân hàng Nhà nước địa phương, cuối năm 1975, phải đặc biệt chú ý số liệu, theo dõi đô la tài chính vừa đủ và dành kinh phí thừa của năm 1975 trong thời gian chỉnh sửa để đảm bảo tồn tại và dư thừa chính xác. Nếu có chênh lệch, hai bên phải tìm ra nguyên nhân và thống nhất cách điều chỉnh cho đúng thực tế và đúng chế độ, không thể tạo ra trạng thái chênh lệch dữ liệu khác nhau năm này qua năm khác.

Đã nhận được thông tin này đề nghị đề nghị các ngành ở trung tâm, Ủy ban hành chính tỉnh và thành phố tổ chức nghiên cứu kỹ năng, nắm chắc yêu cầu các công việc cần làm, đồng thời tiến hành kiểm tra một cách nguy hiểm, rút ​​kinh nghiệm việc khóa sổ thu chi ngân sách cuối năm 1974, để đề xuất kế hoạch bổ sung và hướng dẫn cho các đơn vị thi hành, đảm bảo kết thúc tốt ngân sách năm 1975.

KT. TỔNG GIÁM ĐỐC
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
(Đã ký)

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

Lê Đức

Trịnh Văn Bính

(*) In trong Công báo 1973, số 20, trang 332.

Lược đồ văn bản

Tải về & chia sẻ

📘Tải file gốc (.doc)41.TT.LB.doc · 68 KB
Chia sẻ:

Văn bản liên quan

Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật

Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.

Tra cứu văn bản