Thông tư liên tịch số 40 TT/LB Hướng dẫn trích lập quỹ khen thưởng giải phóng tàu nhanh
Thuộc tính văn bản
| Số hiệu | 40 TT/LB |
|---|---|
| Loại văn bản | Thông tư liên tịch |
| Ngành | |
| Cơ quan ban hành | Bộ Tài chính |
| Người ký | Lê Khả — Thứ trưởng |
| Ngày ban hành | 12/10/1989 |
| Ngày hiệu lực | 12/10/1989 |
Trích yếu nội dung
Thông tư liên tịch số 40 TT/LB Hướng dẫn trích lập quỹ khen thưởng giải phóng tàu nhanh
Nội dung toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH, BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------------------------------ |
Số : 40 TT/LB | Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 1989 |
THÔNG TƯ LIÊN BỘ
Hướng dẫn trích lập quỹ khen thưởng giải phóng tàu nhanh
__________________________
Thông tư Liên Bộ Giao thông vận tải - Tài chính số 01 TT/LB ngày 2/1/1985. Về việc hướng dẫn chế độ thưởng giải phóng tàu nhanh đã có tác dụng nhất định trong việc động viên, khuyến khích cán bộ công nhân viên tham gia giải phóng tàu nhanh, Nhưng đến nay , còn một số tồn tại và không phù hợp với sự đổi mới về cơ chế quản lý trong sản xuất kinh doanh của đơn vị cơ sở. Để tăng cường quyền tự chủ tài chính và từng bước hạch toán tự trang trải của các đơn vị. Liên Bộ Tài chính - Giao thông vận tải hướng dẫn lại chế độ trích lập quỹ khen thưởng giải phóng tàu nhanh ở các Cảng biển như sau:
1. Về Nguyên tắc chung:
- Các cảng biển là những đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, thực hiện quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính (lãi - lỗ) (theo quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng). Do vậy, trong việc giải phóng tàu nhanh ở cảng, các đơn vị phải tự cân đối giữa tiền thưởng và tiền phạt: Nhà nước không cấp bù phần chênh lệch tiền phạt cao hơn tiền thưởng và ngược lại, cũng không điều tiết phần chênh lệch tiền thưởng cao hơn tiền phạt.
- Việc quản lý sản xuất kinh doanh là trách nhiệm của các đơn vị cơ sở nên trong các hợp đồng kinh tế đã ký kết về xếp dỡ hàng hoá. (kể cả hàng xuất khẩu) đối với các hãng tàu trong và ngoài nước phải trên cơ sở các định mức giải phóng tàu đã công bố và tính toán để không bị lỗ.
- Sau khi lấy thưởng bù phạt, phần tiền thưởng còn lại (bao gồm cả ngoại tệ và hiện vật được thưởng) được dùng để trích thưởng cho các đối tượng tham gia giải phóng tàu và trích lập quỹ dự phòng về giải phóng tàu.
- Phần ngoại tệ và hiện vật, được thưởng đều phải quy định đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá do Nhà nước quy định và theo giá cả thị trường tại thời điểm được thưởng để làm nguồn vốn trích thưởng và lập quỹ dự phòng về giải phóng tàu.
- Căn cứ vào chế độ trích lập quỹ khen thưởng giải phóng tàu nhanh, giám đốc các cảng biển ra quy chế thưởng cho các đối tượng tham gia giải phóng tàu sau khi đã được đại hội CNVC toàn xí nghiệp nhất trí.
- Trong trường hợp số tiền phạt cao hơn tiền thưởng, các cảng phải dùng quỹ dự phòng hoặc quỹ xí nghiệp để bù đắp.
2. Nguồn tiền thưởng và phân phối tiền thưởng giải phóng tàu:
a. Nguồn tiền thưởng giải phóng tàu: Là khoản tiền thương và khoản tiền chênh lệch giữa thưởng và phạt (kể cả ngoại tệ và hiện vật) do các hãng tàu trong và ngoài nước thưởng cho các cảng biển có công trong việc chỉ đạo điều hành xếp dỡ hàng hoá giải phóng tàu nhanh.
b. Phân phối tiền thưởng: Nguồn tiền thưởng giải phóng tàu được phân phối như sau:
- Dành ít nhất 20% tổng số nguồn tiền thưởng để lập quỹ dự phòng về giải phóng tàu.
- Phần còn lại dùng để thưởng cho các đối tượng tham gia giải phóng tàu nhanh. Giám đốc các cảng biển căn cứ vào mức khống chế tối thiểu nói trên để quy định tỷ lệ cụ thể trích thưởng cho các đối tượng tham gia giải phóng tàu và lập quỹ dự phòng cho phù hợp với tình hình thực tế của mỗi cảng. Trong điều kiện và tình hình cụ thể, nếu mức thưởng cao gấp nhiều lần tiền lương, thì giám đốc xí nghiệp xem xét giải quyết mức thưởng hợp lý; số tiền còn lại dùng vào các mục đích khác để phát triển hoạt động kinh doanh của cảng.
3. Sử dụng quỹ dự phòng.
Quỹ dự phòng dùng để bù đắp cho những trường hợp khi phát sinh tiền bị phạt lớn hơn tiền được thưởng giải phóng tàu nhanh.
Riêng đối với các hãng tàu Liên Xô, do thời hạn thanh toán tiền thưởng kéo dài, cảng cảng biển được tạm sử dụng quỹ dự phòng để trích thưởng kịp thời cho CBNCN tham gia giải phóng tàu - Khi được thanh toán, các cảng biển hoàn trả lại quỹ dự phòng.
Cuối năm, khi quyết toán, tuỳ theo số dư quỹ dự phòng về giải phóng tàu, các cảng có thể chuyển một phần bổ sung vào quỹ KKPTSX của đơn vị, hoặc trích từ các quỹ xí nghiệp để bổ sung cho quỹ dự phòng về giải phóng tàu.
4. Hạch toán và báo cáo quyết toán:
Mọi khoản tiền thưởng, phạt, trích lập và sử dụng quỹ khen thưởng giải phóng tàu nhanh của các cảng biển đều phải hạch toán và phản ánh riêng trên sổ sách kế toán, không hạch toán vào kết quả sản xuất kinh doanh chung của đơn vị.
Hàng quý và năm các cảng biển phải lập báo cáo quyết toán phản ánh đầy đủ khoản tiền thưởng phạt, tình hình trích lập và sử dụng quỹ khen thưởng giải phóng tàu nhanh. Trên cơ sở đó, Liên hiệp hàng hải Việt Nam tổng hợp và báo cáo quyết toán với Bộ Giao thông vận tải và Bộ Tài chính theo đúng thời hạn đã quy định.
5.Điều khoản thi hành:
Thông tư này thi hành từ năm 1989, mọi quy định trước đây về chế độ trích lập quỹ khen thưởng giải phóng tàu nhanh trái với thông tư này đều phải bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện, nếu gặp khó khăn vướng mắc, các đơn vị phản ánh kịp thời về hai Bộ để xem xét và giải quyết./.
KT BỘ TRƯỞNG BỘ GIAO THÔNG VẬN Thứ trưởng (Đã ký) Lê Khả | KT/ BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH Thứ trưởng (Đã ký) Hồ Tế |
Lược đồ văn bản
- 217/HĐBT Quyết định số 217/HĐBT Ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh
- 217/HĐBT Quyết định số 217/HĐBT Ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh
Tải về & chia sẻ
Văn bản liên quan
Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật
Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.