📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Thông tư liên tịchCòn hiệu lực

Thông tư liên tịch số 17-TT/LB Hướng dẫn và quy định về tổ chức và chính sách đối với đội chủ lực làm thủy lợi và thủy điện ở miền núi

📄 Số hiệu: 17-TT/LB🏛️ Bộ Tài chính📅 17/09/1968

Thuộc tính văn bản

Số hiệu17-TT/LB
Loại văn bảnThông tư liên tịch
NgànhTài chính
Lĩnh vựcQuản lý dịch vụ tài chính và các quỹ tài chính
Cơ quan ban hànhBộ Tài chính
Người kýTrần Mạnh Quỳ — Thứ trưởng
Ngày ban hành17/09/1968
Ngày hiệu lực17/09/1968

Trích yếu nội dung

Thông tư liên tịch số 17-TT/LB Hướng dẫn và quy định về tổ chức và chính sách đối với đội chủ lực làm thủy lợi và thủy điện ở miền núi

Nội dung toàn văn

BỘ LAO ĐỘNG-BỘ TÀI CHÍNH-BỘ THUỶ LỢI

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 17-TT/LB

Hà Nội, ngày 17 tháng 09 năm 1968

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

Hướng dẫn và quy định về tổ chức và chính sách đối với đội chủ lực làm thủy lợi và thủy điện ở miền núi

________________________

Thi hành Quyết định số 38-TTg/NN nước ngày 05/4/1968 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức đội chủ lực làm thủy lợi và thủy điện ở miền núi; sau khi trao đổi nhất trí với các ngành có liên quan, Liên bộ Thủy lợi – Lao động – Tài chính ra thông tư hướng dẫn và quy định về tổ chức và chính sách cụ thể đối với đội chủ lực như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU TỔ CHỨC CHỦ LỰC

Hiện nay cũng như những năm tới nhiệm vụ phát triển thủy lợi và thủy điện ở miền núi rất lớn. Chính phủ đã quyết định tổ chức đội lao động chủ lực để xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện ở các tỉnh miền núi, vùng miền núi thuộc các tỉnh trung du, khu 4 cũ. Tổ chức tốt đội chủ lực sẽ giải quyết một phần khó khăn về lao động, bảo đảm nhân lực thường xuyên cho ngành thủy lợi hoàn thành dứt điểm đồng bộ các công trình theo kế hoạch, phục vụ kịp thời cho sản xuất, giảm bớt huy động dân công góp phần tích cực xây dựng miền núi vững mạnh.

Đội chủ lực là tổ chức lao động thường xuyên của ngành thủy lợi, do Nhà nước lập ra theo hướng từng bước chuyên môn hóa lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ, tăng cường trang bị công cụ lao động để đẩy mạnh tốc độ tăng năng suất lao động, tiết kiệm nhân lực. Hàng năm Chính phủ quyết định chỉ tiêu lao động (trong đó có đội chủ lực) cho từng địa phương.

Nhiệm vụ đội chủ lực là xây dựng phần đất của các công trình thủy lợi, thủy điện thuộc vốn đầu tư Nhà nước, bảo đảm năng suất lao động cao, chất lượng công trình tốt, giá thành hạ. Trong quá trình sản xuất đội phải phấn đấu từng bước xây dựng đơn vị và đội viên ngày càng tiến bộ về các mặt: chính trị, tư tưởng, văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ trở thành những người lao động mới có tinh thần làm chủ tập thể cao.

Người tham gia đội chủ lực là làm nghĩa vụ của hợp tác xã và do hợp tác xã cung cấp lao động cho Nhà nước. Những cán bộ, đội viên tiến bộ, có đủ điều kiện sẽ được xét tuyển vào biên chế của Nhà nước. Người không có đủ điều kiện thì hết thời hạn 2 năm sẽ trở về tham gia sản xuất ở địa phương. Người tham đội chủ lực được hưởng quyền lợi tinh thần, vật chất vận dụng theo chế độ đối với cán bộ, công nhân ngành xây dựng cơ bản (quy định cụ thể ở phần dưới).

Sau đây là quy định cụ thể:

II. TỔ CHỨC, BIÊN CHẾ ĐỘI CHỦ LỰC.

1. Phương châm, nguyên tắc tổ chức

Tổ chức quân chủ lực phải vô địch phương châm tích cực và chắc chắn của Chính phủ đề ra. Các tỉnh đã tổ chức lực lượng thí nghiệm chủ yếu phải xây dựng cơ sở cố gắng theo phương pháp đã được quy định trong quyết định và sử dụng các cuộc khảo sát phù hợp với đặc điểm, chế độ quản lý của địa phương để phát triển năng lượng mới. Những tỉnh chưa có đội chủ lực cần học tập kinh nghiệm ở những nơi đã có để tổ chức tốt.

Việc tổ chức đội chủ lực phải được tiến hành khẩn trương để đảm bảo nhân lực phục vụ cho công tác thủy lợi và thủy điện nhưng phải chuẩn bị đầy đủ kế hoạch sản xuất, đào tạo, bồi dưỡng chỉ huy (bỏ cả tổ trưởng, tổ hợp sản xuất). Nhân viên nghiệp vụ, công cụ sản xuất, dụng cụ sinh hoạt… để sau khi tổ chức đội có thể bắt tay ngay vào sản xuất đạt được năng lực lao động của Nhà nước. Nơi nào chưa chuẩn bị đủ những điều kiện nói thì không được tổ chức lực lượng chủ lực.

2. Tổ chức và biên chế

Để thực hiện đúng quy tắc trong Quyết định số 38-TTg/TN của phủ Chính là: “Bộ máy của quân chủ lực không có cấp trung gian, lực lượng gián đoạn thấp, quy mô hợp lý, phù hợp với điều kiện tổ chức làm thủy lợi ở miền núi và khả năng quản lý của cán bộ chỉ huy…” Liên bộ quy định cụ thể như sau:

- Đội viên đội chủ lực gồm những xã viên hợp tác xã nông nghiệp, lao động ở các thị trấn, thị xã, thành phố, có đủ sức mạnh hái lao động, nam từ 18 tuổi đến 45 tuổi, nữ từ 18 tuổi đến 40 tuổi, làm các hợp tác và Ủy ban hành chính cơ sở bầu cử đi làm nghĩa vụ. Tỷ lệ nữ sử dụng trong tổng số thành viên khoảng 50% và tùy theo tình hình từng nơi, Ủy ban hành chính tỉnh đề nghị Tỉnh ủy quy định tỷ lệ thành viên, đoàn viên thanh niên lao động để đảm bảo chất lượng của quân chủ;

- Mỗi đội từ 50 đến 100 thành viên; dưới nhóm có các nhóm sản xuất, mỗi nhóm từ 12 đến 15 nhóm;

- Ban chỉ huy đội từ 2 đến 3 người (1 đội trưởng và 1 hoặc 2 đội phó) thoát ly sản xuất, mỗi tổ có 1 tổ trưởng và 1 hoặc 2 tổ phó không thoát ly sản xuất. Giúp việc ban chỉ huy anh hùng có 1 kế toán tài chính, 1 thống kê kế hoạch, 1 quản lý dẻo tiếp liệu, 1 y tá và tùy theo số lượng đội viên với điều kiện sinh hoạt nơi làm việc để ấn định số cấp dưỡng cho phù hợp hợp lý (1 cấp dưỡng phục vụ từ 20 đến 25 người);

- Quyền hạn, nhiệm vụ, nguyên tắc lề lối làm việc của đội trưởng, đội phó, tổ trưởng, tổ phó và nhân viên nghiệp vụ do Bộ Thủy lợi quy định sau.

Để đảm bảo lãnh đạo, giáo dục của Đảng đối với lực lượng lao động này, Ủy ban hành chính đề nghị Tỉnh ủy và các quân đoàn có thể lựa chọn tổ chức ở mỗi đội chủ lực một chi bộ Đảng lao động Việt Nam, một chi đoàn thanh niên lao động, một công đoàn cơ sở, một tiểu đội hoặc một trung đội tự vệ.

3. Trang sản phẩm được sản xuất.

Ủy ban hành chính các tỉnh có nhiệm vụ trang bị công cụ sản xuất cho đội chủ lực, đảm bảo khi thành lập đội phải có đủ công cụ thông thường và công cụ cải tiến thích hợp với khả năng sử dụng của đội ở miền núi; chưa có đủ công cụ sản xuất trang thiết bị cho các thành viên theo yêu cầu nói trên thì thiết bị tổ chức chức năng nhất chưa được thiết lập. Sau khi tổ chức phải thường xuyên chăm lo trang

được bổ sung và sửa chữa công cụ cho đội.

Công cụ sản xuất trang bị cho đội chủ lực chia làm hai loại: loại ít tiền mau hỏng như quang, xe trâu, xe Kiến an, xe ba gác Trung Quốc, quay đường goòng… sẽ làm tài chính cấp cho doanh nghiệp lợi nhuận phải chết mua sắm các loại công cụ trên (Bộ Thủy lợi sẽ có thông tin hướng dẫn sau).

năm ty thủy lợi có trách nhiệm lập kế hoạch nhu cầu công cụ sản xuất của đội chủ lực, cùng một lúc với một kế hoạch xây dựng các công trình và kế hoạch lao động, thông qua Quận ban hành chính để Ủy ban giao trách nhiệm cho các ngành công nghiệp, lâm nghiệp, vật tư, vật chất, thương nghiệp hàng hóa địa phương phục vụ nhu cầu đó. Đồng thời, ở mỗi đội thủy lợi phải tổ chức cơ sở sản xuất thích hợp để sản xuất, sửa chữa một số công cụ đơn giản của đội chủ lực mỗi đội chủ lực thành lập một tổ sửa chữa (không thoát ly sản xuất) trang đã có một số công cụ sửa chữa đồ nghề sửa chữa các công cụ bị hỏng trong quá trình sản xuất.

III. QUYỀN LỢI CỦA NHỮNG NGƯỜI THAM GIAM ĐỘI CHỦ LỰC.

Thủ tướng Chính phủ quy định: “Những người tham gia đội chủ nhân trong thời gian làm công tác thủy lợi được hưởng các quyền lợi tinh thần, chất hợp lý trên cơ sở sử dụng chế độ đối với quản lý, nhân công chế độ xây dựng cơ sở dữ liệu”.

Căn cứ theo nguyên tắc trên, Liên bộ quy định những quyền lợi cụ thể của cán bộ, đội viên đội chủ lực như sau:

A. CHẾ ĐỘ LƯƠNG.

1. Đối với cán bộ chỉ huy (đội trưởng, đội phó) là người làm công việc chủ sở hữu ở xã hội hoặc là công nhân, viên chức có kinh nghiệm trong ngành thủy lợi được tạo thành lương theo bảng lương chức vụ sau đây:

Chức năng

Lương 1 tháng

Trả 1

Số 2

Quận 3

Quận 4

Đội trưởng

48đ00

53đ00

58đ00

63đ00

Phó

44đ00

48đ00

53đ00

58đ00

Cán bộ điều động xã hội được đề cử làm đội trưởng, đội phó nếu chưa có kinh nghiệm Ủy ban hành chính, Đảng ủy hoặc các ngành chính ở xã sẽ có tác dụng 85% khả năng khởi động lương trong thời gian 12 tháng.

Trường hợp có thể chỉ định mức lương đã được xếp hạng, mức lương cũ hơn mức định mức lương sẽ được sắp xếp lại, nếu mức lương cũ cao hơn được giữ nguyên theo hành động hiện tại theo lịch trình chính.

2. Đối với nhân viên phục vụ nếu đã qua đào tạo ở các trường chính được xếp hạng lương theo chế độ hiện hành. Trường hợp điều động từ xã hội lên hoặc lấy trong đội viên ra, chưa qua lớp đào tạo nghiệp vụ, tạm thời trả theo công năng 33đ, nhưng trong thời gian này cơ quan quản lý có trách nhiệm kèm cặp, bồi bổ tại chức năng về nghiệp vụ cho họ, sau một năm công tác nếu nhân viên đó có trình độ năng lực và tinh thần trách nhiệm có thể kiểm tra tốt để nâng cấp theo chế độ thực hiện hành động.

3. Đối đầu với nhân viên cấp dưỡng tuyển ở ngoài sẽ căn cứ vào trình độ kỹ thuật để xếp lương theo bảng lương cấp dưỡng hành động của Bộ Nội thương quy định cho nhân viên nấu ăn. Trường hợp tuyển thành viên ra làm cấp dưỡng được giữ lương trong một thời gian theo chế độ hiện hành.

4. Đối với các đội viên trực tiếp sản xuất thì chủ nhân yếu ảnh hưởng đến lương theo chế độ lương, làm nhiều ảnh hưởng nhiều, làm ít ảnh hưởng, làm việc gì ảnh hưởng đến lương theo việc làm đó. Đơn giá tính theo nội bộ đã được cơ sở phê duyệt xác minh.

Để làm cơ sở cho việc trả lương và trả lương trong những trường hợp nghỉ việc, liên tục…tất cả các đội viên (cung cấp cả những người ngoài biên chế) đều được xếp hạng lương theo thang lương thiết kế cơ bản. Công việc xếp hạng từng người phải căn cứ vào khả năng, trình độ kỹ thuật sản xuất của từng thành viên. Trong năm đầu (12 tháng) nói chung các nhóm thành viên đều xếp hạng 1 là 37đ00. If ai có trình độ kỹ thuật cao thì có thể được xếp loại cao hơn

Kể từ năm thứ hai trở lại, tất cả đều được thực hiện ở chế độ đính kèm trong sản phẩm để nâng cấp theo danh sách hiện tại.

Khi thực hiện chế độ lương cao, trường hợp lý có lý do chính đáng được trả 100% cấp lương. Trường hợp kiểm tra các nhân chủ tuy đã cố gắng nhưng chưa được giải quyết, Nhà nước đảm bảo 80% cấp bậc lương. Bộ Thủy lợi sẽ hướng dẫn cụ thể công việc tổ chức thực hiện và phân phối sản phẩm lương.

Đối với các cán bộ chỉ huy đơn vị tốt nhất, các nhân viên gián tiếp phục vụ tốt, lời khuyên cho đơn vị đạt năng suất lao động cao cũng được khen thưởng xứng đáng. Việc này Bộ Thủy lợi sẽ thảo luận với Bộ lao động và Bộ Tài chính sẽ có văn bản quy định riêng.

B. CHẾ ĐỘ NGỪNG VIỆC

Khi sắp có trường hợp ngừng làm việc hoặc bắt đầu phải ngừng làm việc trong một thời gian dài, nếu không thể tự điều chỉnh công việc khác thì ty thủy lợi báo cáo ngay cho Ủy ban hành chính tỉnh để điều chỉnh tạm thời cho các đơn vị bạn theo tinh thần Chỉ thị số 75-TTg/CN ngày 30/6/1965 của phủ Thủ Chính Chính phủ. Trong thời gian chưa được điều chỉnh, các cán bộ và đội viên đã bị ảnh hưởng 70% cấp bậc lương. Thời gian làm việc liên tục không được kéo dài quá 1 tháng. Trường hợp phải dừng hoạt động trong một khoảng thời gian ngắn về chi tiết, thiên tài, thiếu vật liệu nguyên liệu hoặc lập kế hoạch cho các công việc không gây nguy hiểm, vv… thì các bộ cán, nhân viên bị ảnh hưởng 70%. Dừng thực hiện cảnh báo hoặc vì sẽ được áp dụng như hành động hiện tại chính sách.

Việc làm lương của bản thân nhân viên gây ra, kể từ khi người lao động nghỉ việc không được trả lương; người bị ảnh hưởng phải ngừng việc vẫn được hưởng 70% bậc lương.

C. CHẾ ĐỘ PHỤ CẤP KHÁC

- Tất cả các cán bộ, nhân viên, đội ngũ chủ nhân khi làm việc ở nơi có cấp khu vực đều được hưởng phụ cấp khu vực theo quy định hành động của Nhà nước.

- Những người được cấp trên chỉ định làm tổ trưởng sản xuất được hưởng phụ cấp trách nhiệm 5% lương cấp bậc (làm việc theo lương thời gian) hoặc 70% cấp lương bậc (làm việc theo lương lương).

- Những người có thể sản xuất, sản xuất trực tiếp đội viên, làm việc trong điều kiện nóng, độc hại bị ảnh hưởng ở chế độ lương nóng, có tổn hại hoặc bồi thường chế độ bằng cách hiện hành theo quy định.

- Các nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ, quản lý cấp dưỡng được hưởng phụ cấp công trường 4% lương cấp theo chế độ hiện hành (trừ cán bộ chỉ huy, nhân viên y tế nếu thuộc nhóm 2 và đội trực tiếp tiếp sản xuất).

D. CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC, NGHỈ NGƠI, NGHỈ LỄ, NGHỈ PHÉP

Tất cả cán bộ, nhân viên chủ lực đều được hưởng các quyền lợi về làm việc, nghỉ yên, nghỉ lễ, nghỉ phép theo chính sách hành động đối với cán bộ, công nhân Nước nước.

E. CHẾ ĐỘ LƯƠNG THỰC PHẨM, THỰC PHẨM, VẢI MAY MẶC.

1. Lương thực:

Những người đội trực tiếp sản xuất, những ngày làm việc và ngày nghỉ theo quy định được ăn mỗi ngày 0,700kg lương thực, nếu đội đội nào vượt quá định mức sẽ được bán thêm lương thực theo tỷ lệ nhưng tối đa mỗi tháng, mỗi người không ăn quá 30kg. Cụ thể như sau:

- Đạt 105% đến 120% định mức, được bán thêm 0kg100,

- Đạt 121% đến 150% định mức, được bán thêm 0kg200,

- Đạt 151% định trở lên, được bán thêm 0kg300,

Đối với việc cân các trường huy động chỉ mỗi tháng được ăn 18kg, nhân viên gián đoạn 15kg.

2. Về thực phẩm.

Được áp dụng như một công cụ quản lý nhân viên. Đối với tác động của người trực tiếp sản xuất như công nhân loại 3.

3. Vải có thể mặc định và bán theo giá cung cấp.

Tất cả các bộ, nhân viên, đội viên mỗi năm được cấp 5 triệu phiếu mua theo giá bán. Ngoài ra, người nào lúc đầu lên công trường nếu xét chưa đủ áo rét thì mỗi người được mua thêm 1 áo bảo vệ Đông Xuân miễn vải và ưu tiên mua phân bố một lông bông hoặc lông sợi Nam Định, một màn cá nhân và 1m5 vải nhựa… Hàng tháng, hàng quý vẫn được cơ sở quản lý thương mại phân phối các sản phẩm tiêu dùng cần thiết như đối với bộ, công nhân công tác ở địa phương.

G. TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ THAO.

Về tổ chức cuộc sống cho các cán bộ, nhân viên, đội chủ lực được thực hiện theo các Thông tư 12-TT/LB ngày 5/12/1958 và Thông tư 19-LĐ/TT ngày 31/10/1959 của Bộ lao động về chế độ đối với cán bộ, công nhân trên các trường công nghiệp theo kiến ​​trúc cơ bản.

H. TRANG BỊ VÀ PHÒNG HỘ LAO ĐỘNG, QUẦN ÁO LÀM VIỆC.

Thi hành theo chế độ chung cho công việc của nhân viên Nhà nước. Bộ thủy lợi sẽ xây dựng tiêu chuẩn cụ thể để cấm hành động sau khi Bộ lao động có lợi.

I. Chế độ bảo hiểm xã hội.

Những người có thể làm chủ, đội chủ lực đã được tuyển dụng vào biên chế sẽ được áp dụng như hiện hành bảo mật chế độ. Những bộ đội chưa được tuyển dụng vào biên chế đã được áp dụng chế độ bảo mật như sau:

- Đau đầu:

Khi được y , bác sĩ phụ trách đề nghị cho nghỉ việc để điều trị tại trạm xá công trường hoặc cơ sở y tế của Nhà nước tại nơi gần nhất, được Nhà nước đài thọ viện phí (tiền bạc bổ dưỡng, tiền tầu xe) được hưởng 70% lương cấp bậc và phụ cấp thường xuyên (nếu có) trong thời gian không quá 3 tháng. Hết hạn này bệnh chưa khỏi và nếu gặp khó khăn thiếu cân bằng sẽ được Nhà nước giúp đỡ tiếp tục điều trị và tác động đến chế độ như nhân dân (làm cứu tế địa phương đài thọ). Nếu chết được chôn cất chug như quy định tại điều 12 chương hai của Điều hợp tạm thời về huy động và sử dụng dân công thời chiến ban hành kèm theo Nghị định số 77-CP ngày 26/4/1966 của phủ Hội đồng Chính, được hướng dẫn tại Thông tư liên bộ Lào Tài – chính – Y tế số 07-TT/LB ngày 24/5/1966.

- Thái Lan:

Tất cả lao động nữ đều được tác động theo các chế độ hiện hành về sử dụng, bồi dưỡng và bảo vệ sinh học, phụ khoa cho nữ. Ngành chủ quản phải thường xuyên thực hiện tốt các chế độ bảo vệ lao động và phúc lợi đi đôi với cải tiến công cụ, cải tiến điều kiện làm việc nhằm giảm nhẹ những công việc quá sức ăn không hợp lý đối với điều kiện thể dục phụ nữ, nhất là khi chị em kinh hành hoặc có thái.

Không tuyển nữ đang làm việc ở đội chủ lực. Những chị em tham gia đội chủ lực làm việc chưa được 1 năm mà sinh sinh thì cơ quan quản lý thanh toán các khoản tiền 2 tháng nghỉ sinh, tiền bồi dưỡng sau khi sinh, tiền mua vải viền, tiền tầu xe để chị em về gia đình nghỉ đẻ và sau đó sản xuất tại địa phương.

Những phụ nữ làm việc được hỗ trợ trên 1 năm dù chưa được tuyển vào biên chế cũng được đảm bảo thi hành đúng chế độ thực hiện đối với lao động nữ (trừ cấp đông con).

- Tai nạn lao động và tai nạn chiến tranh:

Đối với những cán bộ, đội viên chưa được tuyển dụng chính thức vào biên chế mà tai nạn lao động hoặc tai nạn chiến tranh sẽ được áp dụng như chế độ công dân chiến tranh. Bị tai nạn rủi ro thì được giải quyết như giảm đau.

- Chế độ thôi:

Những cán bộ, đội viên chủ lực được thôi việc có lý do chính đáng theo các trường hợp lý đã quy định tại mục 1 phần II Thông tư số 88-TTg/CN ngày 10/01/1964 của Thủ tướng Chính phủ cứ mỗi năm làm việc được hỗ trợ bằng 50% của 1 tháng lương. kể cả phụ cấp thường xuyên (nếu có).

Khi thôi việc dù sức khỏe suy yếu cũng được xét hỗ trợ để cung cấp thêm theo quy định tại điểm c mục 2 phần II Thông tư số 88-TTg/CN.

Những người có thể làm việc, đội ngũ ngừng làm việc về nhà được cung cấp lương thực 1 tháng và giới thiệu về cơ sở thực hiện lương địa phương tiếp tục bán tiêu chuẩn của phương pháp địa phương cho mục tiêu thu nhập. Sau đó, nó được hợp lý hóa căn cứ vào hiệu suất của phân phối địa phương cũng như mọi thành viên khác và được bố trí hợp lý tiếp tục tham gia sản xuất như các thành viên khác.

IV. TRÁCH NHIỆM CÁC CẤP, CÁC NGÀNH.

Ủy ban hành chính chịu trách nhiệm tổ chức quản lý sử dụng đội chủ lực đúng chỉ tiêu kế hoạch lao động, kịp thời gian, đúng chính sách, bảo đảm có năng suất lao động cao. Tiến hành tổ chức đội phải trên cơ sở đã chuẩn bị tốt các mặt khảo sát, thiết kế, kế hoạch thi công, nguyên nhiên vật liệu, công cụ sản xuất, đảm bảo cho đội chủ lực hoạt động liên tục, tránh lãng phí nhân lực. Ủy ban hành chính tỉnh giao trách nhiệm cụ thể và kiểm tra đôn đốc các ngành có liên quan như thủy lợi, lao động, tài chính, thương nghiệp, công nghiệp, vật tư, lương thực và Ủy ban hành chính huyện, xã, ban quản trị hợp tác xã làm theo chức năng của mỗi ngành, mỗi cấp, góp phần tích cực vào việc củng cố, phát triển đội chủ lực được nhanh chóng, vững mạnh đáp ứng yêu cầu của công tác thủy lợi, thủy điện ở miền núi, bảo đảm thực hiện đúng chính sách, chế độ của Nhà nước đối với đội chủ lực; xét tuyển những cán bộ, nhân viên nghiệp vụ, đội viên đội chủ lực vào biên chế thuộc khu vực Nhà nước trong đó ưu tiên cho việc xây dựng đội chủ lực làm thủy lợi và thủy điện.

Ủy ban hành chính huyện, xã và ban quản trị hợp tác xã căn cứ vào chỉ tiêu phân bổ của tỉnh, nhiệm vụ sản xuất của địa phương, lập kế hoạch cân đối lao động, phân công xã viên đi làm nghĩa vụ, bảo đảm cung cấp lao động cho Nhà nước đủ số lượng, đúng tiêu chuẩn, đúng chính sách, kịp thời gian yêu cầu của tỉnh. Ủy ban hành chính xã, hợp tác xã, có trách nhiệm thường xuyên động viên người đi tham gia đội chủ lực giúp đỡ gia đình họ như đối với những gia đình có người đi thanh niên xung phong, đi công tác xa, để anh chị em yên tâm phấn khởi hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Ty thủy lợi là cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban hành chính tỉnh tổ chức và quản lý, đồng thời là cơ quan trực tiếp sử dụng đội chủ lực trong địa phương mình có trách nhiệm:

- Hàng năm lập kế hoạch xây dựng các công trình, kế hoạch lao động trong đó có đề nghị xin chỉ tiêu tổ chức đội chủ lực;

- Chuẩn bị cán bộ, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ, công cụ lao động, dụng cụ sinh hoạt… đầy đủ trước khi tổ chức đội;

- Quản lý đội về các mặt tổ chức giáo dục, kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài vụ, lao động tiền lương và từng bước hướng dẫn đội thực hiện chế độ hạch toán kinh tế. Trường hợp đội chủ lực thi công ở công trường, đóng tại một huyện thì ty thủy lợi căn cứ vào khả năng thực tế của huyện đề nghị Ủy ban hành chính tỉnh phân cấp cho Ủy ban hành chính huyện quản lý đội chủ lực trên một số công tác nhất định về mặt tổ chức, giáo dục hoặc kế hoạch sản xuất…

- Trong sử dụng, ty thủy lợi phải chuẩn bị đầy đủ các mặt khảo sát, thiết kế, kế hoạch thi công, nguyên vật liệu, công cụ lao động và điều kiện làm việc, lương thực, thực phẩm, kinh phí, nơi ăn,ở… Trước khi điều lao động và đội chủ lực đến chỉ đạo chặt chẽ việc cải tiến tổ chức lao động, cải tiến kỹ thuật bảo đảm sử dụng đội chủ lực có năng suất lao động cao. Thực hiện đầy đủ chính sách, chế độ của Nhà nước đối với cán bộ, đội viên đội chủ lực.

Ty lao động căn cứ vào chỉ tiêu lao động của đội chủ lực miền núi được Bộ Lao động phân bố hàng năm và tình hình đặc điểm lao động trong địa phương, đề xuất với Ủy ban hành chính tỉnh phân bổ và có biện pháp cụ thể hướng dẫn huyện, xã, hợp tác xã cung cấp lao động để xây dựng đội chủ lực tốt; kiểm tra, đôn đốc các ngành, các cấp và công trường thực hiện đầy đủ chính sách, chế độ Nhà nước đã quy định đối với cán bộ, đội viên đội chủ lực; đề xuất với Ủy ban hành chính tỉnh xử lý kịp thời những trường hợp để lãng phí lao động, nhất là trường hợp đội chủ lực phải ngừng việc.

Ty tài chính có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra thực hiện đúng chính sách, đúng thủ tục, chế độ tài chính của Nhà nước đã quy định, cấp phát hiện kịp thời vốn, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đội hoạt động bình thường ngay từ đầu, chỉ đạo các phòng tài chính huyện và phối hợp với các ngành có liên quan giám sát chỉ tiêu của đội, chống tham ô, lãng phí.

Việc tổ chức quản lý sử dụng đội chủ lực làm thủy lợi và thủy điện ở miền núi là một vấn đề mới có nhiều khó khăn, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Liên bộ yêu cầu Ủy ban hành chính các tỉnh nghiên cứu kỹ Quyết định số 38-TTg/NN của Thủ tướng Chính phủ và thông tư liên bộ để vận dụng vào tình hình cụ thể của địa phương, và có biện pháp tích cực chủ động củng cố và phát triển đội chủ lực đảm bảo cho công tác thủy lợi và thủy điện ở miền núi phát triển nhanh, gọn và dứt điểm.

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ THỦY LỢI
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ LAO ĐỘNG
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)

Lê Chân Phương

Lược đồ văn bản

Tải về & chia sẻ

📘Tải file gốc (.doc)17.TT.LB.doc · 104 KB
Chia sẻ:

Văn bản liên quan

Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật

Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.

Tra cứu văn bản