Thông tư liên tịch số 16TT / LB Về việc khoá sổ thu chi ngân sách Nhà nước cuối năm 1976.
Thuộc tính văn bản
| Số hiệu | 16TT / LB |
|---|---|
| Loại văn bản | Thông tư liên tịch |
| Ngành | |
| Cơ quan ban hành | Bộ Tài chính |
| Người ký | Vũ Huy Hiệu |
| Ngày ban hành | 13/11/1976 |
| Ngày hiệu lực | 13/11/1976 |
Trích yếu nội dung
Thông tư liên tịch số 16TT / LB Về việc khoá sổ thu chi ngân sách Nhà nước cuối năm 1976.
Nội dung toàn văn
BỘ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Số : 16TT / LB | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - tự do - hạnh phúc ------------------------------ Hà nội, ngày 13 tháng 11 năm 1976 |
THÔNG TƯ LIÊN BỘ
VỀ VIỆC KHOÁ SỔ THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CUỐI NĂM 1976.
Ngân sách Nhà nước năm 1976 là Ngân sách năm đầu trong kế hoạch 5 năm 1976-1980 và là ngân sách thống nhất đầu tiên cả nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện tạm thời còn lưu hành hai đồng tiền khác nhau giữa hai miền. Bộ máy tổ chức thực hiện Ngân sách được phát triển nhưng chưa được kiện toàn; bên cạnh những đơn vị có kinh nghiệm quản lý Ngân sách quy nhiều năm, còn có số lớn đơn vị, địa phương mới tiến hành lần đầu nên không khỏi có những khó khăn nhất định.
Với những đặc điểm trên đây, với yêu cầu tổ chức thực hiện vượt mức nhiệm vụ thu chi Ngân sách Nhà nước năm 1976, công việc khoá sổ thu chi Ngân sách cuối năm càng cần phải có sự hướng dẫn, tổ chức chu đáo trong cả nước; để góp phần kết thúc thắng lợi Ngân sách Nhà nước năm 1976, Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước quy định những thủ tục và biện pháp khoá số thu chi Ngân sách cuối năm trong cả nước như sau:
I. Ý NGHĨA, TÁC DỤNG VÀ PHẠM VI ĐỐI TƯỢNG THI HÀNH.
Khóa sổ thu chi Ngân sách Nhà nước cuối năm là một chế độ, kỹ thuật tài chính, không đơn thuần chỉ là thủ tục hành chính sự vụ kế toán, mà còn có tác dụng tích cực đối với việc hoàn thành nhiệm vụ thu chi Ngân sách, thúc đẩy sản xuất, cải tiến quản lý. Tất cả các Bộ, các ngành, các cơ quan xí nghiệp và các tổ chức khác của Nhà nước, thông qua khoá sổ để xác minh lại nguồn vốn, nguồn kinh phí của đơn vị mình, xem xét lại mức độ thực hiện nghĩa vụ thu chi Ngân sách đã được Nhà nước giao cho, và phải có biện pháp tích cực đẩy mạnh việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức nghĩa vụ có trong những ngày tháng cuối năm.
Làm tốt việc khoá sổ thu chi Ngân sách, còn tạo điều kiện cho cơ quan đơn vị quyết toán được chính xác số thu, số chi Ngân sách Nhà nước, phản ánh trung thực hiệu quả đồng vốn của đơn vị mình để nâng cao chất lượng quản lý trong năm 1977.
Công việc khoá sổ thu chi Ngân sách Nhà nước năm 1976, tuy thực hiện tại tất cả các Chi nhánh nghiệp vụ Ngân hàng Nhà nước nội địa và Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, nhưng tất cả các ngành, các cấp, các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị dự toán đều có trách nhiệm hoàn thành đầy đủ tất cả mọi việc trước khi Ngân hàng khoá sổ: nội hết, nộp đủ tất cả các khoản thu của Ngân sách năm 1976 vào Ngân hàng trước ngày giờ khoá sổ; sắp xếp tổ chức thực hiện những khoản chi cần thiết trước khi hết năm 1976 nhưng không “chi vét”, không “chạy vốn”; phải khoá sổ thu chi Ngân sách tại cơ quan, xí nghiệp, đơn vị mình khớp đúng với Ngân hàng Nhà nước cơ sở về số liệu và thời điểm.
II. CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ TRƯỚC KHI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC KHOÁ SỔ CUỐI NĂM.
A. Thanh toán thu nộp Ngân sách.
Tất cả các ngành, các cấp, các cơ quan đơn vị đều phải đảm bảo nghĩa vụ thu nộp cho Ngân sách Nhà nước. Cho nên, trước khi Ngân hàng Nhà nước các cấp khoá sổ thu chi Ngân sách năm 1976, các đơn vị, cơ quan, xí nghiệp phải tích cực chuẩn bị để thực hiện đầy đủ những công việc cụ thể sau đây:
1. Tất cả các khoản thu thuộc Ngân sách Nhà nước năm 1976, kể cả lợi nhuận vượt kế hoạch của các xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh, phải nộp hết, nộp đủ vào kho bạc chậm nhất là trong ngày 31/12/1976. Nếu nộp sau ngày đó, đều coi là nộp cho năm 1977 và không được tính vào thành tích nộp tích luỹ cho Nhà nước năm 1976 khi xét duyệt hoàn thành kế hoạch năm 1976.
Ngay từ đầu quý IV và chậm nhất là đầu tháng 12 năm 1976 các Bộ, các ngành phải chủ động tính toán, giao nhiệm vụ thu nộp cụ thể cho từng xí nghiệp, từng đơn vị cấp dưới, có biện pháp theo dõi, kiểm tra nhằm hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu nộp cho Nhà nước trong năm 1976. Mỗi khi giao nhiệm vụ cho cấp dưới đóng ở địa phương nào, cần báo cho cơ quan Tài chính và Ngân hàng Nhà nước nơi đó biết để cùng phối hợp đôn đốc thực hiện.
Từng đơn vị thu nộp, phải tự mình soát lại số đã nộp Ngân sách năm 1976 và khẩn trương nộp hết số còn thiếu, kể cả lợi nhuận vượt kế hoạch nếu có, bảo đảm vào Ngân sách trước ngày 31/12/1976.
Phải hết sức tránh không để xảy ra tình trạng do không tính toán cụ thể mà nộp quá mức phải nộp. Trường hợp cố tình nộp quá mức để được xét duyệt công nhận hoàn thành kế hoạch và giải quyết các quyền lợi về trích quỹ xí nghiệp rồi sau lại đề nghị điều chỉnh thì coi như vi phạm kỷ luật tài chính.
2. Tất cả cơ quan, xí nghiệp, đơn vị nào, ngành nào, địa phương nào, còn giữ các quỹ riêng, quỹ trái phép thì bất luận nguồn gốc loại vốn đó ở đâu, trong dịp chuẩn bị khoá sổ này, phải kê khai với cơ quan Tài chính nộp hết vào Ngân sách năm 1976.
3. Các phòng, trạm, các uỷ nhiệm thu thuế, các cửa hàng thương nghiệp ở các thành phố, thị xã, thị trấn - do đặc điểm có thu tiền thuế hoặc tiền bán hàng sau ngày giờ khoá sổ của Ngân hàng Nhà nước nhưng vẫn thuộc Ngân sách năm 1976 thì đơn vị phải bàn bạc trước với Ngân hàng Nhà nước cơ sở nơi giao dịch về thu nộp, để tổ chức thu nhận những số tiền này trong ngay hôm sau, mà vẫn hạch toán vào khoản nộp của năm 1976.
4. Ngân hàng Nhà nước cơ sở phải bố trí cán bộ, huy động mọi lực lượng có thể được, chuẩn bị đầy đủ để đảm bảo thu nhanh, thu hết, hạch toán kịp thời vào Ngân sách. Đặc biệt ở những nơi có nhiều nguồn thu như thành phố Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố và thị xã khác, Ngân hàng Nhà nước phải tổ chức thu nhận chu đáo, nhất thiết không để số thu nộp của năm 1976 phải chuyển sang năm sau. Nếu có đơn vị thu nộp số tiền mặt quá lớn, không đến nhận kịp trong giờ hành chính ngày 31 tháng 12 năm 1976 thì Ngân hàng Nhà nước cơ sở, căn cứ vào giấy nộp tiền, mà ghi thu cho năm 1976, còn tiền mặt thì tổ chức niêm phong, có chữ ký của hai bên (bên nộp và bên nhận) rồi sẽ đếm tiếp trong các ngày sau. Khi tổ chức đếm, Ngân hàng Nhà nước phải báo cho đơn vị có tiền nộp chứng kiến kết quả.
5. Đối với các khoản tạm thu, thu chưa phân tích khoản, hạng, thu ngoài Ngân sách, các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước phải phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp và các đơn vị có thu nộp những khoản đó để điều chỉnh hết vào các khoản, hạng chính thức thuộc Ngân sách năm 1976 trước ngày giờ khoá sổ cuối năm.
Đến thời hạn khoá sổ, nếu còn sót lại số tiền nào chưa điều chỉnh thì Chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố thống nhất với Sở Ty tài chính lập chứng từ điều chỉnh vào khoản “thu khác” thuộc Ngân sách năm 1976.
B. Thanh toán các khoản chi Ngân sách.
Việc thanh toán chi tiêu cuối năm 1976 phải nhằm đạt yêu cầu ngăn cấm tình trạng “ tranh thủ chi hết dự toán”, “chạy vốn” vào cuối năm, đồng thời đối với những việc cần thiết phải chi tiêu, thì bố trí kịp thời, sao cho khoản chi được thực hiện và được thanh toán, quyết toán vào Ngân sách năm 1976
Để đạt yêu cầu này, phải chuẩn bị sớm các việc sau đây:
1. Cơ quan Tài chín định ngày đình chỉ phê chuẩn hạn mức, duyệt dự toán, cơ quan Ngân hàng Nhà nước đình chỉ việc phân phối hạn mức, chuyển kinh phí năm 1976:
a/ Thời hạn đình chỉ: Thời hạn đình chỉ những việc nói trên được ấn định căn cứ vào thời gian luân chuyển giấy tờ từ nơi phê chuẩn hạn mức đến nơi nhận kinh phí sao cho hạn mức hoặc kinh phí chuyển về đến cơ sở còn có thể sử dụng được kịp thời. Do đó, đối với những đơn vị nhận kinhphí chi tiêu càng ở xa, càng phải lo liệu sớm để khỏi chậm lỡ công việc. Tuyệt đối không vì đình chỉ phê chuẩn hạn mức, duyệt dự toán hay đình chỉ phân phối hạn mức, chuyển kinh phí mà làm trở ngại đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị kinh tế và chi tiêu của các đơn vị hành chính sự nghiệp.
b/ Đối với Ngân sách trung ương:
- Bộ Tài chính đình chỉ không phê chuẩn hạn mức và Ngân hàng Nhà nước trung ương đình chỉ việc phân phối hạn mức, chuyển kinh phí Ngân sác như sau:
+ Từ 14 giờ ngày 10/12/1976 đình chỉ cấp phát hạn mức năm 1976 đối với cơ quan Bộ Tài chính ở phía Nam và cho đơn vị trực thuộc trung ương tại phía Nam;
+ Từ 14 giờ ngày 16/12/1976 đối với các đơn vị đóng ở Bình Trị Thiên, Nghệ Tỹnh, Hà tuyên, Sơn La, Lai Châu;
+ Từ 14 giờ ngày 20/12/1976 đối với các đơn vị đóng ở các tỉnh khác trên miền Bắc (trừ Hà Nội);
+ Từ 14 giờ ngày 27/12/1976 đối với các đơn vị đóng ở Hà nội.
- Cơ quan Bộ Tài chính và cơ quan Ngân hàng Nhà nước trung ương ở phía Nam đình chỉ không phê chuẩn, phân phối và chuyển hạn mức kinh phí Ngân sách như sau:
+ Từ 14 giờ ngày 16/12/1976 đối với các đơn vị đóng ở các tỉnh Quảng nam -Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Gia Lai, Công Tum,Đắc lắc;
+ Từ 14 giờ ngày 20/12/1976 đối với các đơn vị đóng ở các tỉnh khác ở miền Nam (trừ thành phố Hồ Chí Minh);
+ Từ 14 giờ ngày 16/12/1976 đối với các đơn vị đóng tại TP Hồ Chí Minh.
c/ Đối với Ngân sách địa phương: Các Sở Ty tài chính và các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Thành phố, tỉnh quy định ngày giờ đình chỉ việc phê chuẩn, phân phối hạn mức và chuyển kinh phí cho các đơn vị thuộc Ngân sách địa phương cho ăn khớp với các thời hạn nói trên và phù hợp với tình hình cụ thể của các cơ quan, đơn vị đóng trong địa phương.
d/ Các đơn vị trực tiếp chi tiêu, không phân biệt thuộc Ngân sách trung ương hay Ngân sách địa phương, đều phải đình chỉ phát hành “séc bảo chi” vào 14 giờ ngày 24/12/1976 để bảo đảm cho “séc” đã phát hành có đủ thời gian quay trở lại Ngân hàng Nhà nước trước ngày 31/12/1976. Nếu do nhu cầu thật cần thiết phải phát hành sau ngày giờ đó thì đơn vị phải đương đầu lượng với Ngân hàng Nhà nước nơi lưu ký hạn mức để được giải quyết.
2. Thanh toán các khoản cho vay, đi vay, tạm ứng tạm cấp:
a/ Tất cả các khoản tiền Ngân cấp trên cho Ngân sách cấp dưới vay đều phải thanh toán xong trước ngày 10/12/1976. Nếu có khó khăn chưa thể thanh toán kịp, cơ quan đi vay phải báo cáo cụ thể với cơ quan cho vay để kịp thời giải quyết trước ngày đình chỉ việc chuyển tiền và kinh phí đã nói ở điều 1 trên đây.
b/ Các cơ quan, đơn vị dự toán đã được cơ quan tài chính tạm ứng, tạm cấp kinh phí cũng phải thanh toán xong trước ngày 10/12/1976. Nếu có lý do chính đáng chưa thể thanh toán ngay được thì phải bàn bạc với cơ quan tài chính xin tạm ứng, tạm cấp trước cho năm sau, lấy đó mà hoàn lại tiền tạm ứng, tạm cấp trong năm quyết toán, đồng thời thống nhất ghi sổ sách, bảo đảm ăn khớp giữa kế toán đơn vị, kế toán Ngân sách và kế toán kho bạc.
c/ Trong nội bộ đơn vị dự toán, một mặt phải xét kỹ, hạn chế việc tạm ứng trong tháng 12/1976, một mặt phải tích cực thanh toán hoặc thu hồi các khoản đã tạm ứng từ trước, chú ý giải quyết dứt điểm các khoản do cơ quan chủ quản ở phía Nam đã tạm ứng cho cán bộ miền Bắc vào Nam công tác hoặc ngược lại, đảm bảo cho đến ngày 31/12/1976 không còn số dư nợ tạm ứng nữa, kể cả ở miền Nam và ở miền Bắc. Trường hợp đặc biệt, có lý do chính đáng, được cơ quan Tài chính xác nhận, thì được chuyển sang năm sau bằng cách rút kinh phí năm sau, coi như khoản tạm ứng mới, thuộc niên khoá 1977, và lấy đó để nộp hoàn trả tạm ứng trong năm 1976.
3. Thanh toán các khoản tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước.
Hiện nay, tại các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nội địa và ngoại thương có rất nhiều tài khoản tiền gửi của các cơ quan, xí nghiệp, công trường.... Trong từng tài khoản, nguồn gốc tiền gửi lại rất khác nhau, trong đó có những số tiền thuộc nguồn vốn Ngân sách, hoặc là khoản thu của Ngân sách chưa nộp, hoặc là vốn Ngân sách cấp phát chưa chi hoặc chi chưa hết. Cuối năm 1976, khi khoá sổ thu chi Ngân sách phải đặc biệt coi trọng việc thanh toán các tài khoản tiền gửi này.
Trừ tài khoản tiền gửi về vốn sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế quốc doanh và công tư hợp doanh, còn tất cả các tài khoản tiền gửi khác của tất cả các cơ quan, xí nghiệp, công trường mở tại các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nội địa và ngoại thương đều phải thanh toán dứt điểm trên nguyên tắc triệt để ngăn chặn chiếm dụng và sử dụng trái phép vốn Ngân sách theo kế hoạch quy định trong bản phụ lục đính kèm.
4. Nộp kinh phí thừa và huỷ bỏ hạn mức cuối năm.
Tất cả các khoản thanh toán còn thừa cũng như số tiền mặt còn tồn quỹ tại đơn viị, trước khi hết năm, đều phải nộp hết, trả lại Ngân sách trước ngày giờ khoá sổ của Ngân hàng Nhà nước.
Nếu sau đó đơn vị còn thu hồi được kinh phí thừa của năm 1976, thì vẫn tiếp tục nộp vào Ngân hàng Nhà nước cho đến hết ngày 31/3/1977; Ngân hàng Nhà nước cơ sở hạch toán vào tài khoản “thu ngoài Ngân sách” trên sổ sách và báo cáo kế toán năm 1977. Sang ngày 1/4/1977, Sở Ty tài chính cùng với Ngân hàng Nhà nước cung cấp đối chiếu số thực thu trong tài khoản này thông nhất làm thủ tục chuyển chi vào thu giảm cấp phát hoặc thu hồi tạm ứng về niên khoá 1976. Còn những khoản thu hồi từ 1/4/1977 trở đi, không được coi là kinh phí thừa của năm quyết toán 1976 nữa, mà phải ghi vào tài khoản “thu hồi khoản chi năm trước” thuộc Ngân sách năm 1977.
Hạn mức kinh phí thuộc Ngân sách năm 1976 còn lại ở Ngân hàng Nhà nước đến ngày khoá sổ mặc nhiên được huỷ bỏ: Không một đơn vị nào được rút ra chi tiêu nữa và cũng không phải làm thủ tục chuyển trả cho cấp trên nữa.
5. Chuẩn bị kinh phí chi tiêu đầu năm 1977.
Tất cả các Bộ, ngành, các Sở Ty chủ quản, trong tháng 12 năm 1976, có trách nhiệm quan hệ với cơ quan tài chính và Ngân hàng Nhà nước cùng cấp, lo toan kinh phí cho năm 1977 để kịp có thông báo hạn mức hoặc lệnh chi cho quý I/1977, đảm bảo ngay từ đầu năm 1977 các hoạt động sản xuất, kinh doanh và công tác của bản thân mình, và cơ quan, xí nghiệp, đơn vị dự toán trực thuộc được thường xuyên và liên tục, không vì khoá sổ thu chi Ngân sách cuối năm trước mà gặp khó khăn, trở ngại.
III. THỜI HẠN KHOÁ SỔ.
Việc khoá sổ thu chi Ngân sách Nhà nước năm 1976 tại các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước cơ sở nội địa và ngoại thương thống nhất tiến hành vào cuối giờ làm việc ngày cuối cùng của năm, cụ thể là 16 giờ ngày 31/12/1976.
IV. CÔNG VIỆC PHẢI TIẾN HÀNH SAU KHI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC KHOÁ SỔ.
1. Sau khi khoá sổ thu chi Ngân sách, các cấp Ngân hàng Nhà nước phải đảm bảo thời hạn điện báo như sau:
a/ Từ Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, quận, khu phố về Chi nhánh Ngân hàng tỉnh, Thành phố: nội trong buổi sáng 1/1/1977.
b/ Từ Chi nhánh Ngân hàng tỉnh, thành phố miền Bắc về Ngân hàng Nhà nước Trung ương, và từ các Chi nhánh tỉnh, thành phố phía Nam về cơ quan Ngân hàng Trung ương ở thành phố Hồ Chí Minh: nội trong buổi sáng 2/1/1977.
c/ Từ cơ quan Ngân hàng Nhà nước Trung ương ở thành phố Hồ Chí Minh về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở Hà nội: nội trong buổi sáng 3/1/1977.
Nội dung điện báo bao gồm:
- Số thu, số chi Ngân sách trung ương ngày 31/12/1976 (và cả số thu, số chi các ngày trước đó chưa điện báo nếu có), có phân tích riêng số thu, chi thuộc năm 1976 và số thu trước, chi trước cho năm 1977; số tồn quỹ đến hết ngày 31/12/1976 của Ngân sách, có phân tích riêng số thu, chi thuộc năm 1976 và số thu trước; chi trước cho năm 1977, số tồn quỹ thuộc Ngân sách địa phương năm 1976 và số tồn quỹ thuộc Ngân sách địa phương năm 1977.
2. Đối với những số dư tài khoản tiền gửi của các cơ quan, đơn vị dự toán mà Ngân hàng Nhà nước cơ sở đã chuyển nộp vào Ngân sách đều phải lập bảng kê chi tiết từng số tiền của từng cơ quan, từng đơn vị để gửi cho:
- Sở, Ty tài chính (phần chuyển nộp vào Ngân sách địa phương);
- Ngân hàng Nhà nước Trung ương hoặc cơ quan Ngân hàng Nhà nước trung ương tại phía Nam (phần chuyển nộp vào Ngân sách Trung ương).
Bảng kê chi tiết này phải đính kèm theo báo cáo kế toán về ngày đã hạch toán số chuyển nộp đó.
Cơ quan Ngân hàng Nhà nước Trung ương ở phía Nam tổng hợp chi tiết các số tiền đã trích nộp ở miền Nam thành 4 bản, một bản lưu, một bản gửi cơ quan Bộ Tài chính ở phía Nam trước ngày 31/1/1977, hai bạn gửi Ngân hàng Nhà nước Trung ương để cơ quan này lưu một bản, còn một bản gửi Bộ Tài chính trước ngày 15/2/1977 cùng với các bảng kê chi tiết các số tiền bị trích nộp ở miền Bắc.
3. Những số dư tài khoản tiền gửi của các đơn vị, công trường xây dựng cơ bản chuyển nộp về Chi hàng kiến thiết tỉnh, thành phố, cũng như những số dư tài khoản tiền gửi của các đơn vị bộ đội, công an nhân dân vũ trang chuyển nộp về tài khoản của Cục tài vụ Bộ quốc phòng, hoặc Cục hậu cần Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang sẽ do các cơ quan chủ quản tổng hợp, theo dõi và xử lý.
4. Về phía các cơ quan, đơn vị dự toán phải đối chiếu số liệu với Ngân hàng Nhà nước cơ sở nơi đơn vị giao dịch, cả về số thu nộp Ngân sách, số hạn mức đã được cơ quan Tài chính thông báo phê chuẩn hoặc đơn vị cấp trên phân phối số hạn mức đã phân phối cho các đơn vị trực thuộc (nếu có), số kinh phí đã thực rút, đã nộp lại để khôi phục hạn mức và số hạn mức còn lại ở Ngân hàng Nhà nước cuối năm để huỷ bỏ.
Những đơn vị được cấp phát bằng lệnh chi tiền, những đơn vị được quản lý theo lối gắn thu bù chi cũng phải đối chiếu về những số tiền đã được cấp phát, hoặc đã thu nộp và đã trích ra sử dụng.
Việc đối chiếu số liệu là một chế độ phải được chấp hành nghiêm túc nhằm xác định những số liệu chính xác đúng làm căn cứ kiểm tra việc chấp hành Ngân sách Nhà nước từ đơn vị cơ sở đến các cơ quan tổng hợp. Do đó, hàng tháng các đơn vị đã phải đối chiếu, đến cuối năm đều phải đối chiếu lại đảm bảo cho số liệu thu chi Ngân sách được chính xác và thống nhất: đảm bảo khớp đúng cả về tổng số thu chi, cả về chi tiết thu chi theo từng loại, khoản, hạng mục của mục lục Ngân sách Nhà nước.
Để đạt được yêu cầu trên, trước tiên, phải đối chiếu các sổ sách, báo cáo kế toán của bản thân mỗi đơn vị, các đơn vị trực thuộc (nếu có ) và căn cứ số liệu đã xác minh đó để đối chiếu với ngân hàng Nhà nước. Nếu còn chỗ nào chưa nhất trí, phải truy nguyên cho kỹ, tìm ra chỗ sai sót và điều chỉnh theo đúng chế độ, đúng với thực tế, đồng thời báo cho các cơ quan có liên quan cùng sửa lại cho thống nhất.
Khi lập báo cáo quyết toán năm 1976, mỗi đơn vị đều nhất thiết phải đính kèm bảng đối chiếu luỹ kế 12 tháng trong năm 1976, có dấu và chữ ký xác nhận của Ngân hàng Nhà nước cơ sở để chúng minh tính chất chính xác, đầy đủ của quyết toán năm 1976.
5. Các Sở, Ty tài chính, với tư cách là cơ quan quản lý một cấp Ngân sách, ngoài việc chủ động đôn đốc các đơn vị ở địa phương thực hiện chế độ đối chiếu số liệu như trên, còn phải trực tiếp đối chiếu các số liệu tổng hơp về ngân sách địa phương với Ngân sách trung ương nữa.
Cụ thể, phải xác minh:
- Các số liệu về vay nợ và trả nợ đối với Ngân sách trung ương;
- Các số thu do Ngân sách trung ương trợ cấp cho địa phương bao gồm:
+ Trợ cấp kiến thiết cơ bản tập trung,
+ Trợ cấp cân đối Ngân sách,
+ Trợ cấp đột xuất và trợ cấp khác (kê riêng từng khoản cụ thể).
Đối với các tỉnh, thành phố ở phía nam, nếu có trường hợp cử cán bộ ra mua hoặc nhận hàng viện trợ ở miền Bắc và được Bộ Tài chính trợ cấp bằng tiền miền Bắc, để thanh toán tiền hàng ngay ở Hà nội hoặc ở một tỉnh miền Bắc nào khác, thì cũng phải xác minh, đối chiếu riêng và kê khai phân tích rõ số tiền miền Bắc được trợ cấp, quy ra tiền miền Nam để khấu trừ vào mức trợ cấp đã được duyệt theo dự toán Ngân sách được duyệt.
- Tổng số thu Ngân sách địa phương (đã trừ thoái thu và có phân tích từng loại, khoản, hạng, mục);
- Tổng số thực cấp phát (đã trừ thu giảm cấp phát và có phân tích từng loại, khoản, hạng, mục);
- Số kết dư Ngân sách địa phương năm 1976, phân tích rõ:
+ Phần có tồn quỹ bằng tiền bảo đảm gửi ở Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố;
+ Phần không có tồn qũy bảo đảm do đã cấp phát cho các đơn vị song đơn vị chưa quyết toán và cũng chưa nộp trả Ngân sách (vì có nguyên vật liệu tồn kho chưa sử dụng và theo chế độ kế toán chưa được phép quyết toán);
- Số tồn quỹ Ngân sách địa phương gửi ở Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cuối năm 1976 (tổng số), phân tích:
+ Phần thuộc ngân sách năm 1976
+ Phần thuộc Ngân sách năm 1977, do có thu chi trước cho năm sau.
Tất cả những số liệu đã đối chiếu, phải có xác nhận của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố và Sở, Ty tài chính phải đính kèm vào Tổng quyết toán thu chi Ngân sách địa phương năm 1976, gửi về Bộ Tài chính đúng thời hạn quy định.
Riêng số tiền miền Bắc, mà Bộ Tài chính đã trợ cấp cho các tỉnh miền Nam, để thanh toán tiền hàng ở miền Bắc, thì Bộ Tài chính (Vụ Ngân sách địa phương) sẽ có thông báo cụ thể cho Sở, Ty tài chính và Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố đồng gửi cho cơ quan Bộ Tài chính ở phía Nam, Ngân hàng Nhà nước trung ương và cơ quan Ngân hàng Trung ương ở phía Nam để có tài liệu đối chiếu và lập Tổng quyết toán Ngân sách địa phương năm 1976.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
Chế độ khoá sổ thu chi Ngân sách Nhà nước năm 1976 tại cơ quan Ngân hàng Nhà nước các cấp (nội địa và Ngoại thương), quy định trong thông thư liên Bộ này, cần được tổ chức chấp hành nghiêm chỉnh, triệt để, phục vụ tích cực hoàn thành Ngân sách Nhà nước năm 1976, đưa hoạt động tài vụ kế toán của các cấp, các đơn vị đi vào nề nếp.
Trong quá trình thi hành, nếu có điểm nào cần bổ sung, hay sửa đổi, các ngành, các cấp, các đơn vị phản ánh về Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Trung ương để xem xét và nghiên cứu giải quyết.
Các cơ quan Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Trung ương và các tỉnh, thành phố trong cả nước chịu trách nhiệm tổ chức học tập, nghiên cứu trong nội bộ ngành và phổ biến cho tất cả các đơn vị thuộc phạm vi đối tượng thi hành đã nói ở các phần trên.
(Đính kèm một bản phụ lục về kế hoạch thanh toán các tài khoản tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước).
KT/ TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG NN VIỆT NAM
Đã ký: Vũ Huy Hiệu | KT / BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG Đã ký: Dương Văn Dật |
Nơi nhận:
- Các đơn vị dự toán trung ương,
- Các cơ quan Bộ Tài chính ở miền Nam.
- Các cơ quan Ngân hàng NNTW ở miền Nam.
- Các Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc,
Trung ương trong cả nước.
- Các Sở, Ty Tài chính trong cả nước,
- Các chi nhánh Ngân hàng kiến thiết trong cả nước,
- Các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh và thành phố
trong cả nước,
- Các Cục, Vụ, Viện và Ngân hàng kiến thiết Việt nam
Thuộc Bộ tài chính,
- Các Cục, Vụ, và Ngân hàng Ngoại thương VN
thuộc NHNN trung ương.
SAO Y BẢN CHÍNH Hà nội, ngày 16 tháng 11 năm 1976 TL / BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH KT/ CHÁNH VĂN PHÒNG Ngô Quốc Thọ |
KẾ HOẠCH THANH TOÁN CÁC TÀI KHOẢN TIỀN GỬI
MỞ TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG DỊP
KHOÁ SỔ THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 1976
Trong nhiều năm qua, để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh và công tác được thuận tiện, nhiều cơ quan đơn vị, tổ chức kinh tế đã được phép mở tài khoản tiền gửi. Ngoài vốn sản xuất kinh doanh và vốn do Ngân sách cấp bằng lệnh chi, nguồn tiền khác cũng được chuyển vào các tài khoản này.
Việc chuyển tiền vào tài khoản tiền gửi và việc sử dụng các khoản tiền này, thông qua công tác khoá sổ thu chi Ngân sách các năm, đã bộc lộ nhiều mặt sơ hở về quản lý kinh tế tài chính, làm cho tình hình tài vụ kế toán ở nhiều nơi không được lành mạnh.
Để tăng cường quản lý kinh tế tài chính, góp phần hoàn thành tốt Ngân sách Nhà nước năm 1976, trong dịp khoá sổ thu chi cuối năm nay, tất cả các tài khoản tiền gửi của tất cả các cơ quam, đơn vị, tổ chức kinh tế mở tại các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nội địa và ngoại thương đều phải thanh toán theo kế hoạch như sau:
a/ Các khoản tiền gửi được miễn kê khai, xét duyệt trong khi khoá sổ thu chi cuối năm 1976.
Những khoản tiền gửi sau đây không phải làm thủ tục kê khai, xin xét duyệt và mặc nhiên được Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi mở tài khoản cho chuyển số dư sang năm 1977 tiếp tục sử dụng:
- Tài khoản tiền gửi vốn sản xuất, kinh doanh của các đơn vị đã hạch toán kinh tế, các đơn vị được áp dụng chế độ cấp phát bổ trợ chênh lệch (gán thu bù chi);
- Tài khoản tiền gửi của cơ quan Đảng Lao động Việt nam các cấp (vì đây là tiền trợ cấp của Nhà nước và tiền đảng phí thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Trung ương Đảng);
- Số kinh phí thuộc Ngân sách năm 1977 đã được cấp trước trong những ngày cuối năm 1976.
- Số kinh phí mà một số đơn vị, cơ quan được Ngân sách cấp phát để dự trữ vật tư chiến lược.
Tuy không thuộc diện phải làm thủ tục kê khai, xin xét duyệt và được chuyển sang năm 1977 sử dụng, song các cơ quan, đơn vị có tài khoản đó vẫn phải tổ chức đối chiếu và xác nhận với Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo trách nhiệm quản lý của cơ quan, đơn vị đối với nguồn vốn của mình, bảo đảm tính chất chính xác của số vốn đó, để có kế hoạch phân phối sử dụng đúng đắn trong năm tới.
b/ Kê khai, xét duyệt các tài khoản tiền gửi của cơ quan, đơn vị dự toán hành chính sự nghiệp và xí nghiệp.
1. Bản thân đơn vị, tổ chức kinh tế trung ương hay địa phương, có các tài khoản tiền gửi, mở tại Chi nhánh Ngân hàng nội địa hay ngoại thương, trước tiên phải tự kiểm tra, soát lại nguồn gốc tất cả những khoản tiền gửi (các tổ chức kinh tế phải xem xét kỹ lưỡng mối liên hệ giưã các tài khoản tiền gửi này với những chi tiết trong tài khoản kế toán “phải thu phải trả” của đơn vị mình):
- Nếu có số tiền nào thuộc khoản thu Ngân sách mà chưa nộp thì phải làm giấy nộp tiền ghi đúng khoản hạng nộp ngay và nộp hết vào Ngân sách trước khi Ngân hàng Nhà nước khoá sổ thu chi năm 1976;
- Những khoản được Ngân sách cấp bằng lệnh chi, chưa chi hay đã chi rồi còn thừa, cũng làm giấy nộp tiền ngay và nộp hết vào Ngân sách năm 1976 để giảm kinh phí cấp phát;
- Nếu có những số tiền chiếm dụng của các cơ quan, đơn vị khác thì phải khẩn chương làm các thủ tục thanh toán trả cho cơ quan, đơn vị đó;
- Nếu có số kinh phí phải trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội hay số tiền thừa của khoản trợ cấp kinh phí công đoàn thì phải thanh toán ngay với Bộ Thương binh xã hội hay Tổng Công đoàn trước khi hêt năm.
2. Chậm nhất là ngày 30 tháng 12, đơn vị, tổ chức kinh tế lập bảng kê khai những số tiền còn dư lại trong các tài khoản kể trên, phân tích rõ nguồn gốc từng khoản tiền, kèm theo đề nghị xử lý những số dư đó, đối chiếu và lấy chữ ký xác nhận của Ngân hàng Nhà nước nơi mở tài khoản rồi báo cáo cho cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính:
+ Các đơn vị dự toán trung ương ở Hà nội báo cáo cho Bộ chủ quản và Bộ Tài chính (Vụ Quản lý tài vụ và Vụ Quản lý Ngân sách Nhà nước);
+ Các đơn vị dự toán trung ương ở thành phố Hồ Chí Minh báo cáo cho cơ quan Bộ chủ quản (nếu có) và cơ quan Bộ Tài chính ở phía Nam;
+ Các đơn vị dự toán Trung ương đóng ở tất cả các địa phương khác, ở cả hai miền, chỉ gửi báo cáo cho Sở, Ty tài chính (Phòng Tổng dự toán), không phải gửi qua Bộ chủ quản hoặc cơ quan của Bộ chủ quản ở phía Nam nữa.
+ Các đơn vị dự toán địa phương gửi báo cáo cho Sở Ty chủ quản và Sở Ty tài chính (Phòng Quản lý tài vụ và Phòng Tổng dự toán).
3. Các Bộ chủ quản, cơ quan của Bộ chủ quản ở phía Nam, các Sở Ty chủ quản, nhận được báo cáo này, có trách nhiệm soát lại nếu còn sót khoản tiền nào thuộc vốn Ngân sách, hoặc chiếm dụng của đơn vị khác, thì đôn đốc nộp hết trả Ngân sách hoặc thanh toán với cơ quan đó.Đối với những khoản tiền có lý do chính đáng được giữ lại thì ghi ý kiến đề nghị, chuyển cho cơ quan Tài chính xét; đồng thời tổng hợp để theo dõi tình hình tiền gửi ngoài Ngân sách của các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn việc quản lý, đôn đốc việc thanh toán nhằm làm cho tình hình tài vụ của các đơn vị trực thuộc được lành mạnh và ngăn ngừa việc hình thành quỹ trái phép để chi tiêu ngoài số kinh phí đã được Ngân sách cấp phát.
4. Cơ quan Tài chính nhận được báo cáo, sẽ xét cụ thể quyết định các số tiền đơn vị dự toán được chuyển sang năm 1977 và đóng dấu duyệt theo mẫu dưới đây và bảng kê rồi gửi cho Ngân hàng Nhà nước nơi mở tài khoản xử lý:
Duyệt cho chuyển sang năm 197 ... số tiền là ............................................................. ..................................................................................................................................... ....................(toàn chữ) ................................................................................................ phân tích như sau: Ngày ....... tháng 12 năm 1977.... TL/ Bộ trưởng bộ tài chính Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngân sách (hoặc Trưởng Ty Tài chính) |
Đến cuối ngày 31 tháng 12, nếu đơn vị nào không lập bảng kê khai, hoặc có kê khai nhưng không có dấu thoả thuận trên đây của cơ quan Tài chính, thì Ngân hàng Nhà nước cơ sở (nội địa và ngoại thương) tự động chuyển tất cả số dư của các tài khoản tiền gửi nộp vào khoản “thu khác” thuộc Ngân sách năm quyết toán; Các đơn vị chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc chấp hành nghiêm chỉnh chế độ kê khai tiền gửi khi khoá sổ Ngân sách.
c/ Đối với tài khoản tièn gửi của các đơn vị bộ đội và Công an nhân dân vũ trang.
Các đơn vị bộ đội và công an nhân dân vũ trang không phỉa làm bản kê khai gửi cơ quan Tài chính, mà chỉ cần làm bản đề nghị với Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi giao dịch để được chuyển sang năm 1977 những số tiền không thuộc diện phải nộp trả Ngân sách.
Nếu đơn vị nào đề nghị giữ lại để chuyển sang 1977 không đúng chế độ, tức là giữ lại cả những số tiền đáng lẽ phải nộp Ngân sách, thì khi kiểm tra phát hiện, đơn vị đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Nếu đơn vị không làm bản đề nghị xin chuyển, thì Ngân hàng Nhà nước cơ sở làm thủ tục chuyển về tài khoản của Cục tài vụ Bộ Quốc phòng hoặc của Cục hậu cần Bộ tư lệnh Công an nhân dân vũ trang (số hiệu và nơi mở tài khoản này do Ngân hàng Nhà nước Trung ương thông báo cho các Ngân hàng địa phương).
d/ Thanh toán tài khoản tiền gửi của các Sở, Ty tài chính.
Đối với tài khoản tiền gửi của các Sở, Ty tài chính phải phân biệt:
- Phần tiền gửi của bản thân cơ quan Tài chính: coi cơ quan Tài chính cũng như một đơn vị dự toán khác và cũng giải quyết như đối với tài khoản tiền gửi của các đơn vị dự toán khác ở địa phương;
- Phần tiền gửi về các kinh phí được uỷ quyền quản lý: Các khoản kinh phí bù lỗ lương thực, bù giá hàng, giải phóng lòng sông, xây dựng vùng kinh tế mới .... do các Bộ, các ngành ở Trung ương hay cơ quan của các Bộ, ở phía Nam chuyển về uỷ quyền cho các địa phương quản lý: trước hết các Sở, Ty tài chính cần đẩy mạnh thực hiện các công tác đã được giao, thanh toán quyết toán sớm mọi khoản đã thực chi với các Bộ, ngành đã uỷ quyền quản lý. Riêng các địa phương ở phía Nam, trong quá trình thanh toán quyết toán với Bộ Nông nghiệp về chi xây dựng vùng kinh tế mới, cần phân tích rõ số đã thực chi bằng vốn của Ngân sách địa phương các tỉnh, thành phố miền Bắc có người đi khai hoang đã tạm ứng, để Bộ Nông nghiệp xét, giải quyết hoàn trả kịp thời cho các nơi đã tạm ứng trước khi hết năm 1976.
Sau khi đã thanh toán quyết toán, nếu công việc được giao đã hoàn thành, số dư kinh phí uỷ quyền quản lý còn lại, Sở, Ty tài chính làm thủ tục nộp hết trả lại Ngân sách Trung ương và đính vào báo cáo quyết toán gửi cho Bộ, ngành, cơ quan đã uỷ quyền một chứng từ nộp chứng minh đã thanh toán xong toàn bộ số vốn được giao.
Trường hợp số dư cần được chuyển tiếp sang năm 1977 sử dụng, thì Sở Ty tài chính phải kê khai, có xác nhận của Ngân hàng Nhà nước, gửi trước ngày 15 tháng 12 năm 1976 vê Bộ Tài chính xét duyệt, đối với các tỉnh, thành phố ở miền Bắc; cơ quan Bộ Tài chính ở phía Nam xét duyệt đối với các tỉnh và thành phố ở phía Nam.
Nếu Sở Ty tài chính không làm bản kê khai, hoặc có kê khai nhưng không rõ ràng và không được Bộ Tài chính hay cơ quan Bộ Tài chính ở phía Nam duyệt thì Ngân hàng Nhà nước cơ sở chuyển hết số dư đến cuối ngày 31/12/1976 của các khoản tiền uỷ quyền quản lý hộ này trả lại Ngân sách Trung ương.
Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Bộ Tài chính, cơ quan Ngân sách Nhà nước Trung ương và Bộ Tài chính ở phía Nam sẽ ghi vào tài khoản “tạm thu năm trước”, sau đó phân tích chuyển thành thu giảm cấp phát về những khoản kinh phí đã uỷ quyền cho địa phương quản lý.
e/ Thanh toán tiền gửi của các đơn vị, công trường xây dựng cơ bản.
Các đơn vị, công trường xây dựng cơ bản có tài khoản tiền gửi tại các Chi nhánh ngân hàng Nhà nước các huyện (nơi không có Chi hàng kiến thiết hay Phòng cấp phát kiến thiết cơ bản), đến 14 giờ ngày 20/12/1976, phải kê khai số dư, phân tích rõ:
- Phần của bản thân đơn vị, công trường gửi vào;
- Phần do Chi hàng kiến thiết tỉnh hoặc thành phố chuyển về, trong đó lại phân tích cụ thể số kinh phí thừa thuộc năm 1976 và số kinh phí được cấp trước cho năm 1977.
Bản kê khai này phải chuyển về cơ quan Tài chính tỉnh, thành phố để phối hợp cơ quan Ngân hàng kiến thiết cùng xét duyệt. Nếu có dấu xét duyệt của Sở, Ty tài chính thì Ngân hàng Nhà nước mới làm thủ tục chuyển sang năm 1977. Nếu không kê khai, hoặc kê khai nhưng không có dấu xét duyệt, thì đến ngày giờ khoá sổ, Ngân hàng Nhà nước tự động chuyển số dư của các tài khoản này trả vào tài khoản của Chi hàng kiến thiết tỉnh hoặc thành phố.
Chi hàng kiến thiết tỉnh, thành phố và Ngân hàng kiến thiết Trung ương phải khẩn trương thanh toán với cơ quan Tài chính những số tiền đã được tạm ứng năm 1976 để cấp phát cho các đơn vị, công trường. Nếu còn thừa và là vốn đầu tư của Ngân sách Trung ương hoặc vốn kiến thiết cơ bản tập trung do Trung ương trợ cấp cho tỉnh hoặc thành phố thì phải trả lại cho Ngân sách Trung ương; nếu còn thừa và là vốn đầu tư của Ngân sách địa phương thì phải trả lại cho Ngân sách địa phương.
Các Sở, Ty tài chính phải phối hợp với Chi hàng kiến thiết xác định số vốn kiến thiết cơ bản do Trung ương trợ cấp còn thừa đến 31/12/1976 và giúp đỡ Chi hàng kiến thiết làm giấy nộp tiền trả lại Ngân sách Trung ương theo đúng thủ tục, mẫu mực, khoản hạng quy định, cụ thể như sau:
- Ngân hàng kiến thiết làm thủ tục trích tài khoản của mình về số vốn kiến thiết cơ bản trợ cấp còn thừa nộp laiị Ngân sách địa phương để tạm ứng kiến thiết cơ bản.
- Sở, Ty tài chính làm thủ tục thoái thu của Ngân sách địa phương trả lại Ngân sách Trung ương (giảm thu trợ cấp do trợ cấp kiến thiết cơ bản tập trung không chi hết), đồng thời Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố chuyển số tiền đó về Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ quản lý quỹ Ngân sách) để ghi thu hồi cho Ngân sách Trung ương (giảm số trợ cấp cho địa phương trước đây).
Các Sở, Ty tài chính phải phối hợp với Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, thành phố để tính toán cụ thể về những công trình tuy chưa sử dụng hêt kinh phí được trợ cấp trong năm nhưng chưa hoàn khối lượng xây dựng và còn phải tiếp tục thi công trong năm 1977 để Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, thành phố mình, để khỏi ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình đang xây dựng dở dang.
Ở miền Nam, nơi nào mới thành lập Phòng hoặc bộ phận cấp phát vốn kiến thiết cơ bản thì tổ chức này đảm nhiệm phần việc quy định cho Chi hàng kiến thiết đã nói ở trên.
Văn bản liên quan:
Lược đồ văn bản
Tải về & chia sẻ
Văn bản liên quan
Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật
Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.