Quyết định số 852/2007/QĐ-UBND Về việc ban hành Chương trình giảm nghèo của tỉnh
Thuộc tính văn bản
| Số hiệu | 852/2007/QĐ-UBND |
|---|---|
| Loại văn bản | Quyết định |
| Ngành | |
| Lĩnh vực | |
| Cơ quan ban hành | Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế |
| Người ký | Ngô Hòa — Phó Chủ tịch |
| Ngày ban hành | 02/04/2007 |
| Ngày hiệu lực | 12/04/2007 |
Trích yếu nội dung
Quyết định số 852/2007/QĐ-UBND Về việc ban hành Chương trình giảm nghèo của tỉnh
Nội dung toàn văn
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: 852/2007/QĐ-UBND
Huế, ngày 02 tháng 4 năm 2007
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Chương trình giảm nghèo của tỉnh
___________________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
- Căn cứ Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010;
- Theo đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình Giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2006 - 2010.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Ban điều hành Chương trình giảm nghèo tỉnh, Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Huế chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Ngô Hòa
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU GIẢM NGHÈO
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số:852/2007 /QĐ-UBND ngày 02 /04 /2007
của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế)
____________________
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
GIAI ĐOẠN 2001-2005.
Chương trình xóa đói giảm nghèo là một chương trình tổng hợp được vận hành theo cơ chế liên ngành, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp của UBND các cấp, chương trình sớm đi vào cuộc sống. Có thể nói, chương trình xóa đói giảm nghèo chủ yếu thực hiện ở mức độ xóa đói (trước năm 2000); đây là vấn đề khó khăn nhưng tương đối đơn giản hơn việc thực hiện giảm nghèo, bởi vì xóa đói trước tiên giải quyết vấn đề cơ bản là lo ăn, còn giảm nghèo, không những bao hàm cả lo ăn mà còn là vấn đề nhà ở, học hành, chăm sóc sức khỏe, các phương tiện sinh hoạt, hạ tầng cơ sở như: điện, đường, trường học, trạm y tế, nước sạch, môi trường sinh sống và cả thủy lợi nhỏ phục vụ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình ...
Do đó muốn giảm nghèo phải có sự nỗ lực của toàn xã hội, của tất cả các ngành, các cấp. Đây là vấn đề hết sức quan trọng và phải kiên trì thực hiện liên tục và lâu dài. Chính vì vậy, sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001- 2005 (gọi tắt là chương trình 143), tỉnh đã kịp thời điều chỉnh chương trình củatỉnh phù hợp với nội dung chương trình quốc gia gồm 7 dự án, 8 chính sách và 6 giải pháp cụ thể và được cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, tổ chức xã hội quan tâm coi công tác xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ chính trị chủ yếu của mình.
A. NHỮNG KẾT QUẢ:
I/ Chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình ở các cấp:
1/ Chỉ đạo và triển khai ở cấp tỉnh:
Trong giai đoạn 2001- 2005 chương trình xóa đói giảm nghèo đã được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bằng các Nghị quyết (Nghị quyết Đại hội Đại biểu tỉnh đảng bộ, Nghị quyết HĐND tỉnh khóa IV và Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; đặc biệt là Nghị quyết về nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, Quyết định phê duyệt Đề án xóa nhà tạm cho hộ nghèo, chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và chương trình hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, đầm phá....)
Các sở, ban, ngành đã triển khai thực hiện những chính sách dự án xóa đói giảm nghèo theo chức năng và nhiệm vụ của ngành. Tuy nhiên sự phối hợp trong công tác tổ chức thực hiện thiếu kịp thời, chưa có sự kết dính chặt chẽ trong quá trình thực hiện các chính sách, dự án của chương trình theo mối liên kết ngang (giữa các cơ quan quản lý thực hiện dự án, chính sách) và mối liên kết dọc (giữa tỉnh, huyện và xã) vì thiếu cơ chế điều hành và thẩm quyền cần thiết của cơ quan Thường trực Ban điều hành chương trình; việc thông tin, báo cáo chưa thành nền nếp. Một số hoạt động còn mang tính phong trào, bề nổi, chưa đi vào chiều sâu, thiếu bền vững của chương trình, hiệu quả mang lại chưa tương xứng với nguồn lực đầu tư. Việc ban hành và thực hiện một số chính sách còn mang tính bao cấp, đã tạo tâm lý ỷ lại của một bộ phận dân cư.
2/ Triển khai thực hiện ở cấp huyện, thành phố:
Các huyện, thành phố đã củng cố, kiện toàn Ban Điều hành chương trình và hoạt động có hiệu quả. Mục tiêu xóa đói giảm nghèo đã được đưa vào các Nghị quyết của cấp ủy Đảng, HĐND và UBND có chương trình hoạt động hàng năm để chỉ đạo thực hiện, đặc biệt có một số huyện có Nghị quyết chuyên đề về tập trung giải quyết các xã nghèo, xã trọng điểm, nhờ đó mà tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể và đời sống nhân dân từng bước có tăng lên rõ rệt; có huyện đã bố trí cán bộ chuyên trách cấp huyện và một số xã như huyện Phong Điền.
Tuy nhiên, việc lồng ghép nguồn lực của các chương trình kinh tế xã hội với mục tiêu xóa đói giảm nghèo chưa được thực hiện tốt, chưa quan tâm ưu tiên đưa đối tượng nghèo vào nội dung các chương trình. Việc huy động nguồn lực tại chỗ chưa tương xứng với khả năng hiện có của địa phương, chủ yếu trông chờ vào nguồn ngân sách của Nhà nước. Việc phối hợp giữa các phòng, ban cấp huyện, thành phố chưa đồng bộ, chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trong công tác xóa đói giảm nghèo nên triển khai thực hiện chưa đồng bộ; Việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm hàng năm có một số huyện không kịp thời.
3/ Triển khai thực hiện ở cấp xã/phường/thị trấn:
Tính đến nay các xã/phường/thị trấn đều có Ban xóa đói giảm nghèo do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND làm Trưởng ban, Ban xóa đói giảm nghèo có chương trình, nội dung hoạt động cụ thể và nhiều đơn vị hoạt động có hiệu quả.
Tuy nhiên, do không có cán bộ chuyên trách về xóa đói giảm nghèo mà chủ yếu là kiêm nhiệm, hơn nữa năng lực đội ngũ cán bộ còn hạn chế nên đã gặp không ít khó khăn trong việc tham mưu, tổng hợp giúp Ban xóa đói giảm nghèo.
Việc điều tra, xác định hộ nghèo đã được triển khai thực hiện đảm bảo qui chế dân chủ với sự tham gia bình xét của nhân dân trong cụm dân cư. Tuy nhiên việc điều tra xác định lại hộ nghèo cũng như xác định hộ thoát nghèo hàng nămthiếu kịp thời, chưa phản ảnh đúng thực trạng tình hình nghèo đói ở địa phương.
Việc triển khai thực hiện các chính sách, các dự án còn thiếu chặt chẽ do thiếu cán bộ và sự giám sát, dẫn đến sai lệch đối tượng trong việc hưởng thụ như: người không nghèo cũng được vay vốn ưu đãi, cũng được khám, chữa bệnh miễn phí làm rò rỉ nguồn lực của chương trình, trong khi đó còn một bộ phận hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa chưa được giải quyết.
Việc tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác xóa đói giảm nghèo chưa được quan tâm đúng mức, chưa làm cho người dân nhận thấy trách nhiệm xóa đói giảm nghèo trước hết là trách nhiệm của chính bản thân hộ nghèo và xã nghèo, Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ nên đã tạo ra tâm lý trông chờ, ỷ lại, thậm chí có những trường hợp phấn đấu để được vào hộ nghèo, để được hưởng chính sách, cá biệt có xã không muốn giảm hộ nghèo không muốn ra khỏi xã nghèo do tâm lý sợ ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân trong xã và sự đầu tư của ngân sách. Đây là mặt tồn tại cần có biện pháp giải quyết trong giai đoạn 2006-2010.
II/ Vai trò của Mặt trận, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội trong công cuộc xóa đói giảm nghèo:
Trong giai đoạn 2001- 2005, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, các tổ chức xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Cuộc vận động xây dựng “ Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” với tình làng nghĩa xóm, tương thân tương ái “lá lành đùm lá rách”, đã trở thành một phong trào sâu rộng trong nhân dân, góp phần đáng kể vào việc xóa nhà tạm cho hộ nghèo. Trong 5 năm qua đã huy động được 11,172 tỷ đồng, xây dựng được 2037 ngôi nhà tình thương.
- Hội Phụ nữ có gần 40% là hội viên nghèo trên tổng số hộ nghèo toàn tỉnh, là lực lượng chủ yếu trong thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo - việc làm. Trong những năm qua, Hội đã có nhiều nội dung hoạt động có hiệu quả, nổi bật là huy động nội lực giúp nhau làm kinh tế, công tác tập huấn chuyển giao kỹ thuật IBM trên lúa, rau màu, thú y với hàng trăm lớp tập huấn có hơn 130.000 lượt phụ nữ tham gia và tiếp tục duy trì, phát triển các nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ. Đặc biệt là nguồn vốn “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo” tiếp tục tăng, nâng tổng số nguồn vốn dư nợ đến nay là 8,945 tỷ đồng với 1.789 lượt hộ vay.
- Hội Nông dân là lực lượng nòng cốt ở nông thôn. Hội đã có nhiều sáng kiến tập trung bằng các giải pháp cụ thể như cải tạo vườn tạp, xây dựng vườn chuyên và nhiều mô hình sản xuất kinh doanh giỏi, đã giải quyết được hàng trăm lao động nghèo thuộc Hội có việc làm.
- Hội Cựu Chiến binh là thành viên gương mẫu thực hiện chương trình, vừa dẫn dắt thế hệ trẻ, vừa tiếp tục huy động nguồn lực của Hội đã đầu tư vào chương trình xóa đói giảm nghèo. Hội đã tăng cường huy động các nguồn vốn cho 3.200 hội viên nghèo vay, nâng tổng số dư nợ đến nay lên 16 tỷ đồng, không những chăm lo cho hội viên của mình mà còn hướng dẫn phổ biến kinh nghiệm làm ăn cho người nghèo, góp phần đáng kể cho công cuộc xóa đói giảm nghèo.
- Đoàn Thanh niên với phong trào “ Thi đua tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” đã triển khai nhiều hoạt động hướng về vùng sâu, vùng xa, góp phần xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới mà cao trào là chiến dịch hè hàng năm, đã vận động các cấp giúp đỡ hộ nghèo ở Nam Đông, và nhiều hoạt động khác như khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí, hỗ trợ tấm lợp, cây trồng vật nuôi, xây dựng đường liên thôn, liên xã...
- Hội Chữ Thập đỏ cũng có nhiều hoạt động thiết thực đối với người nghèo, đã hỗ trợ xây dựng mới và sửa chữa nhà ở, chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và nhiều hoạt động bảo trợ khác với tổng kinh phí trên 2 tỷ đồng.
- Liên đoàn Lao động tỉnh đẩy mạnh phong trào xóa đói giảm nghèo trong giai cấp công nhân, cho vay vốn ưu đãi và chương trình xóa nhà tạm cho công nhân nghèo trên 8 tỷ đồng.
Ngoài ra, các Hội khác như Hội Người mù, Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi, Hội Nạn nhân chất độc Da cam... đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực góp phần thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo.
III/ Cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo với các dịch vụ sản xuất kinh doanh ngày càng tốt hơn góp phần quan trọng tăng thu nhập và giảm nghèo:
1/ Chính sách tín dụng:
Hỗ trợ vốn giúp người nghèo phát triển sản xuất kinh doanh từ lâu được xem là công cụ then chốt trong xóa đói giảm nghèo. Ngoài nguồn vốn của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cung cấp tín dụng phi chính thức, Ngân hàng Chính sách xã hội là tổ chức tín dụng chủ yếu hướng vào người nghèo, đã có nhiều thay đổi tích cực nhằm tăng số người nghèo được vay vốn với chất lượng phục vụ tốt hơn, linh hoạt hơn, có thể vay tới 7 triệu đồng trong thời gian từ 1 đến 5 năm với lãi suất ưu đãi (0,5%/tháng). Tổng nguồn vốn thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội tính đến cuối năm 2005 là 387,938 tỷ đồng. Trong đó, Nguồn vốn TW 327,658 tỷ, nguồn vốn huy động tại địa phương được Trung ương cấp bù 50 tỷ đồng, nguồn vốn nhận tài trợ ủy thác đầu tư tại địa phương 10,280 tỷ đồng và nguồn vốn huy động 4,917 tỷ đồng. Đến nay, đưa tổng số hộ nghèo còn dư nợ là 91.865 hộ với 293,408 tỷ đồng. Nhiều hộ nghèo sử dụng vốn vay có hiệu quả, trả vốn đúng hạn, tỷ lệ nợ quá hạn được duy trì ở mức thấp (dưới 1% so với dư nợ của hộ nghèo). Kinh nghiệm thực tế cho thấy mô hình cho vay ủy thác qua các tổ chức tín dụng, các tổ chức đoàn thể, thông qua “nhóm tương trợ” đã tạo ra sự tương trợ giữa các thành viên trong nhóm, đồng thời góp phần giảm các món vay quá hạn.
Tuy nhiên, tiếp cận tín dụng ưu đãi cho người nghèo vẫn có những hạn chế nhất định, thiếu các dịch vụ hỗ trợ đi kèm như ( hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông...)
2/ Chính sáchbố trí dân cư, phát triển sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số:
Chính sáchbố trí dân cư, phát triển sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những yếu tố góp phần tăng trưởng, thay đổi bộ mặt nông thôn, miền núi, là một trong những giải pháp giảm nghèo có hiệu quả. Năm năm qua đã đầu tư với tổng kinh phí 11,038 tỷ đồng với các hình thức hỗ trợ giống, vật tư, phương tiện sản xuất, dịch vụ thú y, phân bón và chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất. Đặc biệt năm 2004, được sự quan tâm của Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các ngành tập trung đẩy mạnh thực hiện chương trình nâng cao đời sống và giải quyết xây dựng nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tại 2 huyện miền núi A Lưới và Nam Đông đã đem lại những kết quả khả quan.
3/ Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và hướng dẫn người nghèo cách làm ăn:
Với tổng kinh phí được phân bổ trong 5 năm là 400 triệu đồng đã xây dựng 23 mô hình sản xuất, chăn nuôi với 335 hộ tham gia, tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật đến tận một bộ phận hộ nông dân đã trang bị về kiến thức trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông - lâm - thủy sản, về xây dựng mô hình lúa nước, mô hình thâm canh ngô lai và mô hình làm kinh tế vườn nhằm từng bước nâng cao nhận thức của bà con dân tộc từng bước thay đổi tập quán canh tác, tạo điều kiện để bà con tiếp cận với tiến bộ KHKT, nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng, vật nuôi, cải thiện đời sống, góp phần vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo chung của tỉnh.
Đồng thời, Sở Thủy sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các tổ chức đoàn thể phối hợp các địa phương tổ chức hơn 2 ngàn lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật và hướng dẫn các mô hình trình diễn giống cây, con năng suất cao cho người nghèo phù hợp với điều kiện và đặc điểm sinh thái; hướng dẫn bà con cách làm ăn theo phương châm "Cầm tay chỉ việc" của Hội Nông dân và "gắn cho vay vốn tín dụng với tập huấn kỹ thuật cho Hội viên nghèo" của Hội Phụ nữ; phong trào "giúp nhau vì tình đồng đội năm xưa" của Hội Cựu chiến binh đã triển khai đến 35 xã...Đã đào tạo cho 110 khuyến nông viên cơ sở cấp xã, thành lập được 12 câu lạc bộ khuyến nông và chỉ đạo tốt công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng bằng các mô hình như trồng sắn công nghiệp, tre lấy măng, lạc tiên, trồng nấm, đặc biệt phát triển cây cao su đã góp phần giúp nông dân phát triển sản xuất, từng bước xóa đói giảm nghèo.
Qua 5 năm thực hiện dự án đã tạo ra bước ngoặc khá tốt trong việc chuyển phương pháp tập huấn bằng lý thuyết sang bắt tay chỉ việc ngay trên đồng ruộng giúp dân dễ tiếp thu và nhớ lâu hơn.
Tuy nhiên, đến nay vẫn còn nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở một số địa phương do những tập tục và hạn chế về trình độ chưa tiếp cận được tiến bộ kỹ thuật, giống mới vào sản xuất. Đầu tư xây dựng mô hình rất nhiều, song việc áp dụng kết quả của mô hình để nhân rộng chưa được quan tâm, chưa có phương án tiếp theo sau mô hình nhằm giúp dân ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. Vì vậy, giai đoạn tiếp theo 2006-2010 cần bố trí hỗ trợ trực tiếp cho dân về giống, vật tư, phân bón để thực hành sản xuất ngay sau khi có kết quả của mô hình, hình thành dần thói quen và ý thức sản xuất của bà con, từng bước nâng cao năng suất sản lượng cây trồng, vật nuôi, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo.
4/ Dự án hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề ở các xã nghèo:
Tổng kinh phí thực hiện 5 năm qua thuộc nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo là: 2.420 triệu đồng, để thực hiện gồm 4 dự án: Dự án mô hình cây ăn quả, Dự án hỗ trợ sản xuất phát triển ngành nghề xã Phú Đa, xã Phú Xuân huyện Phú Vang, xã Phong Chương huyện Phong Điền. Đây là những dự án được xem là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng, tạo cơ hội việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
5/ Dự án định canh định cư ở các xã nghèo:
- Tổng kinh phí thực hiện trong 3 năm 2003-2005 thuộc nguồn vốn xóa đói giảm nghèo là: 4.116 triệu đồng, thực hiện gồm 07 dự án tại xã Quảng Thái (Quảng Điền), Phong Sơn (Phong Điền), Vinh Phú, Vinh Thanh (Phú Vang), Vinh Hải, Vinh Mỹ (Phú Lộc) và Phú Vinh (A Lưới).
6/ Dự án ổn định dân di cư và xây dựng kinh tế mới:
Tổng kinh phí thực hiện trong 5 năm qua 12.014 triệu đồng với 10 dự án: Dự án kinh tế mới vùng Bắc Ô Lâu, kinh tế mới xã Phong Bình huyện Phong Điền, kinh tế mới vùng cát nội đồng, kinh tế mới xã Quảng Lợi huyện Quảng Điền, kinh tế mới vùng Nam Phước Tượng huyện Phú Lộc, kinh tế mới vùng sông Hai nhánh, kinh tế mới xã Thủy Bằng huyện Hương Thủy, kinh tế mới vùng Chầm xã Hương Hồ huyện Hương Trà, kinh tế mới xã Vinh Thái huyện Phú Vangvà kinh tế mới xã Hương Giang huyện Nam Đông.
Nhìn chung các dự án thực hiện nội dung khá tốt, song do loại dự án nầy yêu cầu đầu tư về cơ sở hạ tầng thiết yếu tương đối lớn vì các vùng kinh tế mới thường là những vùng đất hoang hóa, khi chuyển, dãn dân đến thì phải tập trung xây dựng một số công trình cơ sở hạ tầng để phục vụ sản xuất và đời sống, trong lúc đó nguồn vốn của chương trình còn hạn hẹp; do vậy tỉ trọng đầu tư cho sản xuất, trực tiếp tác động vào kinh tế hộ còn thấp làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Đặc biệt một số vùng khó khăn như vùng Chầm xã Hương Hồ, vùng rú cát xã Quảng Lợi đất xấu thiếu nước nên hiệu quả còn thấp. Để khắc phục tình trạng nầy giai đoạn 2006-2010 cần bổ sung nguồn ngân sách địa phương để bố trí lồng ghép nhằm xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu, còn nguồn vốn của chương trình xóa đói giảm nghèo chỉ tập trung đầu tư cho sản xuất thúc đẩy kinh tế hộ.
7/ Dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác kinh tế mới và cán bộ xã nghèo:
Kinh nghiệm thực tế cho thấy năng lực cán bộ quyết định sự thành công của công tác kinh tế mới. Chính vì vậydự án đào tạo cho cán bộ kinh tế mới đã tổ chức đào tạo từ tỉnh đến cán bộ thôn trưởng, tổ dân phố. Qua 5 năm với kinh phí đầu tư cho dự án là 350 triệu đồng đã tổ chức 18 lớp tập huấn với 1.647 học viên là cán bộ phụ trách công tác kinh tế mới của các cơ quan, ban, ngành đoàn thể cấp tỉnh, huyện, xã là thành viên của Ban điều hànhkinh tế mới các cấp, các trưởng thôn, tổ trưởng dân phố của các huyện, thành phố và 126 cán bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh. Công tác tập huấn cán bộ đảm bảo theo nội dung, chương trình, nâng cao nhận thức về xóa đói giảm nghèo, đã góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách dự án Xóa đói giảm nghèo ở cơ sở; đã có sự cải thiện về năng lực quản lý điều hành ở các cấp. Tuy nhiên, ngân sách dành cho hoạt động này quá nhỏ bé so với tổng thể chương trình, có năm chỉ dành 20 triệu đồng.
Nhìn chung, qua thực hiện 2 nhóm dự án xóa đói giảm nghèo chung và nhóm dự án xóa đói giảm nghèo nằm ngoài Chương trình 135 đều được thực hiện ở các xã vùng đồng bằng, cát nội vùng, bán sơn địa, bãi ngang, ven đầm phá được đầu tư đồng bộ vừa kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, vừa đầu tư để phát triển sản xuất tạo điều kiện cho 5.551 hộ được hưởng lợi, các hộ dân được hưởng lợi có điều kiện vươn lên, nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng; đã tạo công ăn việc làm, có thu nhập, một số hộ đã trở thành trang trại trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao; hàng ngàn ha được khai hoang phục hóa, hình thành các khu nguyên liệu cao như cao su, sắn công nghiệp, cà phê, cơ sở hạ tầng đã được củng cố một bước tạo điều kiện cho sản xuất không ngừng phát triển, các công trình phúc lợi mang lại hiệu quả thiết thực.
IV/ Cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo với các dịch vụ xã hội cơ bản:
1/ Chính sách hỗ trợ về Y tế:
Trước khi có Quyết định 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về khám chữa bệnh cho người nghèo: Việc khám chữa bệnh cho người nghèo được thực hiện theo Nghị định 95/CP của Chính phủ về việc thu một phần viện phí. Thông qua giấy chứng nhận hộ nghèo để làm cơ sở cho việc thực hiện các chính sách liên quan đến chương trình, trong đó có việc khám chữa bệnh. Sau đó tỉnh trích nguồn ngân sách mua Bảo hiểm y tế cấp cho 15.000đối tượng thuộc diện hộ đói với tổng kinh phí 450.000 triệu đồng.
Sau khi có Quyết định 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về khám, chữa bệnh cho ngườì nghèo, UBND tỉnh đã kịp thời ban hành Quyết định 859/2003/QĐ-UB ngày 28/3/2003 phê duyệt đề án xây dựng quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo với 2 hình thức áp dụng cho 2 vùng: Vùng miền núi (Hai huyện Nam Đông và A Lưới) thực hiện khám, chữa bệnh theo phương thức thực thanh, thực chi; Vùng đồng bằng (7 huyện còn lại và thành phố Huế) thực hiện theo phương thức mua và cấp Bảo hiểm y tế với mệnh giá 50.000đ/thẻ/năm. Sau gần 4 năm thực hiện Quyết định 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Đề án của tỉnh về khám, chữa bệnh cho người nghèo đến nay đã có 104.575/120.000 người nghèo thuộc 7 huyện, Thành phố được cấp Bảo hiểm y tế đạt trên 85% tổng số người nghèo, với tổng trị giá mua Bảo hiểm y tế là 5,2 tỷ đồng và đã có gần 104.000 lượt người khám chữa bệnh bằng thẻ Bảo hiểm y tế (hơn 99.000 lượt người khám chữa bệnh ngoại trú và gần 5.000 lượt người khám chữa bệnh nội trú) với tổng chi phí gần 6,150 tỷ đồng và khám chữa bệnh bằng phương thức thực thanh, thực chi đã ứng chi 700 triệu đồng để khám chữa bệnh cho người nghèo ở 2 huyện Nam Đông và A Lưới.
Trong 5 năm đã có 325.694 lượt người nghèo đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế với số tiền 21,7 tỷ đồng. Bình quân, mỗi năm có 81.423 lượt người khám và chữa bệnh với số tiền 5,43 tỷ đồng.
Ngoài ra còn có hơn 200.000 lượt người nghèo đến khám và điều trị tại các cơ sở khám, chữa bệnh từ thiện.
2/ Chính sách hỗ trợ về giáo dục:
Qua 5 năm (2001-2005) đã miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường cho 94.355 lượt học sinh là con em thuộc diện hộ nghèo và hỗ trợ học sinh nghèo của 32 xã đặc biệt khó khăn về vở, viết, sách giáo khoa và trợ cấp xã hội, học bổng với hơn 5,85 tỷ đồng. Bình quân hàng năm có 18.870 học sinh được hỗ trợ về giáo dục, tạo điều kiện cho các em tiếp tục học ổn định.
3/ Chính sách An sinh xã hội, trợ giúp các đối tượng yếu thế:
Đã giải quyết 5.326 đối tượng (bao gồm người già cô đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi) đang được hưởng trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng với mức 65.000đ/tháng và 970 người đang được nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý và các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức từ thiện nhân đạo. Đồng thời, đã tổ chức cứu trợ đột xuất cho các hộ bị thiên tai, hộ quá nghèo. Qua 5 năm (2001-2005) đã có 21.191lượt hộ với 104.256 nhân khẩu được cứu trợ với tổng kinh phí 7,1 tỷ đồng (Trong đó Trung ương hỗ trợ 4,018 tỷ đồng).
4/ Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở:
Bằng các nguồn vốn tổng hợp từ “Quỹ vì người nghèo” Trung ương, của tỉnh, huyện, Chương trình 134, Đề án xóa nhà tạm, Quỹ bảo trợ xã hội và từ các đơn vị được phân công giúp đỡ xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn trong 5 năm, đã hỗ trợ xây dựng mới 5.084 nhà thuộc hộ nghèo và hộ chính sách nghèo với tổng kinh phí 63,171 tỷ đồng, đặc biệt là hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở 2 huyện Nam Đông và A Lưới cơ bản đã được giải quyết. (xem biểu số 6 phần phụ lục).
Ngoài các chính sách, dự án thuộc chương trình xóa đói giảm nghèo (chương trình 143), còn lồng ghép các chương trình dự án khác có liên quan về mục tiêu xóa đói giảm nghèo , trong đó có 2 chương trình: Chương trình phát triển kinh tế xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi (chương trình 135) và chương trình hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển (chương trình 257) đã tác động tích cực trong việc thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo:
* Chương trình135:
Chương trình 135 được Chính phủ phê duyệt năm 1998, năm 1999 năm đầu tiên triển khai chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, trong đó tỉnh Thừa Thiên Huế được Chính phủ đầu tư hỗ trợ tại 32 xã thuộc 5 huyện. Sau 5 năm thực hiện, đến nay có thể khẳng định Chương trình 135 đã đạt được những kết quả khả quan; các cấp, ngành và các địa phương đã chuyển biến mạnh mẽ, năng động trong quản lý, chỉ đạo thực hiện; chương trình đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, tạo ra phong trào lao động sản xuất sôi động, phấn khởi và tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đã có 152/182 công trình được đưa vào sử dụng với tổng vốn thực hiện (1999-2005) là 82,9 tỷ đồng (vốn 135: 81,3 tỷ đồng và vốn khác 1,53 tỷ đồng), Trong đó, 104 công trình giao thông, 26 công trình thủy lợi, 12 công trình điện sinh hoạt, 10 công trình nước sinh hoạt, 26 công trình trường học, 3 công trình trạm y tế, 01 công trình chợ và khai hoang 81 ha. Nhìn chung những xã được thụ hưởng công trình cho thấy dự án đã có tác động tích cực đến đời sống sinh hoạt của đại đa số người nghèo tại đây. Cơ sở vật chất văn hoá, giáo dục, y tế được nâng lên; đã có sự gắn kết trách nhiệm, nghĩa vụ, tình cảm của nhân dân địa phương với quá trình đầu tư xây dựng và sử dụng công trình. Tính đến nay đã có 13 xã vươn lên, thoát ra khỏi xã đặc biệt khó khăn.
* Chương trình257:
Năm 2005 là năm đầu tiên thực hiện chương trình 257. Số công trình được phê duyệt trong năm: 25 công trình, của 22 xã, với tổng số vốn 15,993 tỷ đồng, trong đó có 8 công trình của 8 xã được phê duyệt đầu tư 2 năm (2005-2006) với số vốn 8,120 tỷ đồng, 17 công trình của 14 xã được thực hiện trong 1 năm với 7,873 tỷ đồng. Tính đến cuối năm đã có 17 công trình đầu tư 1 năm đã hoàn thành, đưa vào sử dụng.
* Ngoài ra, ở các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa còn đầu tư cơ sở, thiết bị phục vụ cho công tác tuyên truyền (Báo Thừa Thiên Huế, thiết bị nghe, nhìn...).
5/ Huy động nguồn lực cho xóa đói giảm nghèo:
Trong giai đoạn 2001 - 2005, đã huy động được nhiều nguồn lực cho công tác xóa đói giảm nghèo. Nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, nguồn vốn tỉnh bố trí từ ngân sách địa phương được bổ sung hàng năm vào quỹ xóa đói giảm nghèo tiếp tục phát huy; chỉ đạo thực hiện lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác triển khai trên địa bàn với chương trình xóa đói giảm nghèo có hiệu quả. Từ năm 2001 đến nay, nguồn vốn huy động cho chương trình xóa đói giảm nghèo đạt hơn 600 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn cho vay thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội hơn 293,4 tỷ đồng; Ngân sách Trung ương: 118, 210 tỷ đồng (Bao gồm Chương trình 143, 135 và 257); địa phương 17,541 tỷ đồng; Vốn lồng ghép các chương trình, dự án khác cho xóa đói giảm nghèo gần 80 tỷ đồng;2 cơ quan trung ương và các đơn vị giúp đỡ xã nghèo hơn 3 tỷ đồng; huy động khác như vốn huy động của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, vốn huy động từ các tổ chức Quốc tế, các tổ chức từ thiện, nhân đạo khác khoảng hơn 100 tỷ đồng.
B. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THÀNH TỰU, TỒN TẠI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
I/ Những thành tựu:
-Trước hết, đó là diện mạo nghèo đói đã được cải thiện nhờ những thành tựu trong phát triển kinh tế, cùng với tốc độ tăng trưởng GDP cao (trên 9,2%/năm) trong những năm qua và các chính sách xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp với nguồn kinh phí huy động từ nguồn Trung ương cấp, cộng đồng và các tổ chức Quốc tế đã cải thiện đáng kể diện nghèo đói ở tất cả các địa bàn trong tỉnh. Những thành tựu đó đã góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm nhanh từ 17,29% (tháng 7/2001) xuống còn dưới 7%, về đích trước 1 năm so với chỉ tiêu Đại hội tỉnh Đảng bộlần thứ XII đề ra. Tính đến cuối năm 2005, theo báo cáo của Văn kiện Đại hội Đảng bộ các huyện và thành phố Huế, trong giai đoạn 2001-2005 có gần 23.000 hộ thoát nghèo, tỉ lệ hộ nghèo còn lại 7%, trong đó:TPHuế 1,58%; Hương Thủy 2,21; Phong Điền 5%; Hương Trà 7%; Phú Vang 7,1%, Phú Lộc 7,14%, Quảng Điền 8%, đặc biệt 2 huyện miền núi, tuy khó khăn về địa lý, đồng bào dân tộc thiểu số nhiều nhưng tốc độ giảm nghèo khá nhanh từ 62,3% xuống còn 16% đối với huyện A Lưới và 36,06% xuống còn 9% đối với huyện Nam Đông; Toàn tỉnh có 44 xã, phường, thị trấn cơ bản không còn hộ nghèo (dưới 2%) theo tiêu chí của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội qui định tại Công văn số 3179/LĐTBXH-XĐGN-VL ngày 15/9/2003. Bộ mặt nông thôn nói chung và các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn đã có sự thay đổi đáng kể, nhất là về hạ tầng cơ sở và phát triển sản xuất; đời sống của đại đa số người dân được nâng cao, đặc biệt là nhóm hộ nghèo đồng bào dân tộc ở miền núi, phụ nữ nghèo, không chỉ về thu nhập tăng, đời sống được cải thiện mà khía cạnh sức khỏe, đi lại, học hành cũng tiến bộ rõ rệt.
Đến nay, về cơ sở hạ tầng của các xã, phường, thị trấn cơ bản được tăng cường. 100% xã, phường có trường tiểu học và trạm Y tế; 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã có điện sinh hoạt với 95% số hộ dùng điện; 75% hộ dùng nước sạch (nước máy, nước giếng, nước tự chảy trên cao…).
Đối với các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Chính phủ đã có những chính sách ưu tiên (Chương trình 135, ổn định dân cư , chương trình nâng cao đời sống, trợ giá, trợ cước và nhiều chính sách ưu đãi khác....). Các chính sách này đã giúp người nghèo, người dân tộc xóa đói giảm nghèo, lĩnh hội được các thành quả của quá trình phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng. Tuy chưa theo kịp tốc độ của vùng đồng bằng, vùng đô thị, song đời sống của người dân ở đây đã có những thay đổi tích cực, cơ sở hạ tầng phát triển, thị trường hàng hóa bắt đầu hình thành, dần dần thay thế nền kinh tế tự cung, tự cấp.
Xóa đói giảm nghèo đã thu hút được sự tham gia đông đảo của các tầng lớp dân cư, xóa đói giảm nghèo không phải là một vấn đề của riêng người nghèo hay của các cấp chính quyền, mà là một vấn đề chung của toàn xã hội, các phong trào “Ngày vì người nghèo” đã thu hút đông đảo sự quan tâm và giúp đỡ của các cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và quốc tế. Ngoài nguồn lực hỗ trợ từ trung ương, còn có nguồn ngân sách địa phương và huy động sự đóng góp của cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các dự án của chương trình. Bên cạnh các hỗ trợ bằng tiền, phải kể đến sự đóng góp bằng ngày công lao động của người dân ở những nơi có dự án và thông qua việc xây dựng các mô hình và kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo. Đây thực sự là những đóng góp rất quí báu góp phần thực hiện thắng lợi chương trình xóa đói giảm nghèo.
Việc thực hiện cơ chế phân cấp cho địa phương cơ sở đã tạo điều kiện cho các cấpchủ động, tự quyết và chịu trách nhiệm từ việc xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực đến hiệu quả cuối cùng của chương trình xóa đói giảm nghèo.
Thành tựu xóa đói giảm nghèo là kết quả lãnh, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể các cấp và được nhân dân đồng tình hưởng ứng đã trở thành phong trào quần chúng sâu rộng trên địa bàn toàn tỉnh, góp phần ổn định chính trị xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, từng bước thực hiện công bằng xã hội.
II/ Tồn tại:
Bên cạnhthành tích đạt được, còn có những khó khăn, tồn tại, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh, khắc phục, cụ thể như sau:
Về nhận thức trách nhiệm đối với chương trình xóa đói giảm nghèo ở một số ngành, cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, nhất là ở cơ sở chậm và chưa rõ, thiếu đồng bộ nên điều hành, phối hợp còn lúng túng. Việc phê duyệt một số dự án đầu tư còn chậm. Về công tác cán bộ chưa được coi trọng, nhất là cơ sở nên ở nhiều địa phương vừa thiếu số lượng, vừa hạn chế về trình độ, năng lực và hầu hết là kiêm nhiệm. Hơn nữa có một số cán bộ chuyên môn nghiệp vụ đã yếu, lại thiếu nhiệt tình, nhạy bén, sáng tạo trong việc nắm bắt tình hình đói nghèo trên địa bàn nên đã làm hạn chế khả năng huy động sức mạnh tổng hợp toàn xã hội thực hiện chương trình. Một bộ phận người nghèo và xã nghèo chưa nhận thức đúng về trách nhiệm của chính mình, còn ỷ lại trông chờ, thiếu quyết tâm vươn lên để vượt qua đói nghèo.
Nguồn lực đầu tư trực tiếp từ ngân sách cho chương trình hàng năm chưa cân đối với mục tiêu chung giữa các vùng và nội dung hoạt động của từng dự án. Nhiều địa phương thiếu chú trọng việc huy động nguồn lực tại chỗ cho xóa đói giảm nghèo, còn trông chờ vào sự hỗ trợ của Trung ương và tỉnh.
Một số chính sách, cơ chế vận hành chưa rõ hoặc còn bất hợp lý như: Chính sách hỗ trợ người nghèo về Y tế; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo còn gặp khó khăn; việc lồng ghép các chương trình, dự án vớixóa đói giảm nghèo thiếu tập trung.
Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể nhưng tính bền vững trong xóa đói giảm nghèo chưa cao, vẫn còn một bộ phận dân cư có nguy cơ tái nghèo nhất là vùng thường xuyên bị thiên tai, mất mùa, do thiếu việc làm và việc làm không ổn định; thu nhập thấp, không có tích lũy, đáng chú ý số hộ tuy không thuộc diện nghèo nhưng thu nhập và mức sống sát chuẩn nghèo sẽ gây khó khăn cho những năm tiếp theo.
Hệ thống theo dõi, giám sát chương trình chưa được tổ chức một cách có hệ thống và đồng bộ. Công tác sơ, tổng kết chương trình chủ yếu do các ngành được phân công dự án và của địa phương gửi về cho cơ quan thường trực chỉ mang tính liệt kê, thiếu sự phân tích đánh giá rõ giữa chỉ tiêu đầu vào, đầu ra và sự tác động của chương trình, dự án và báo cáo chưa thường xuyên. Điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác theo dõi và đánh giá chính xác hiệu quả và tác động của chương trình.
III/ Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế:
- Thường xuyên nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói cho các cấp, các ngành và mọi người dân, đặc biệt là người nghèo, xã nghèo. Phải xác định nghèo đói là nỗi nhục để từ đó thấy trách nhiệm vươn lên. Xóa đói giảm nghèo không phải chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà trước hết phải thuộc về từng cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng và trách nhiệm của tòan xã hội. Đây là một nội dung quan trọng của định hướng XHCN và là mấu chốt để thực hiện thành công chương trình giảm nghèo.
- Xã hội hóa hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là xã hội hóa về nguồn lực (nhân lực và vật lực). Nguồn lực của Nhà nước đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ, còn nguồn lực chính phải huy động từ bản thân người nghèo, cộng đồng xã hội. Sự hợp lực này sẽ tạo ra một phong trào xóa đói giảm nghèo sôi động. Để xã hội hóa được các hoạt động xóa đói giảm nghèo, cần phải đề cao vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp, và các tổ chức quốc tế.
- Phải xây dựng “Chương trình giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2006-2010” lấy đó làm cơ sở pháp lý trong việc triển khai thực hiện các chính sách, dự án đối với người nghèo, thiết lập được cơ chế phân bổ ngân sách công bằng và có tính khuyến khích, tạo điều kiện cho các huyện thành phố trong việc huy động nguồn lực tại chỗ cũng như lồng ghép với các mguồn lực khác. Phải có sự phân công trách nhiệm cụ thể đối với các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, Thành phố trong việc triển khai thực hiện chương trình với từng chính sách dự án thuộc phạm vi quản lý của ngành. Phải bố trí đội ngũ cán bộ chuyên trách xóa đói giảm nghèo ở cả 3 cấp, đặc biệt là cấp cơ sở để có kế hoạch đào tạo, nâng cao cho đội ngũ làm công tác xóa đói giảm nghèo.
- Tiến hành phân cấp cho cấp xã trong quá trình thực hiện chương trình, phân cấp phải đi đôi với nâng cao năng lực đội ngũ cơ sở, thực hiện dân chủ, tăng cường sự giám sát của người dân thông qua hệ thống UBMTTQ các cấp.
- Phải thiết lập hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá toàn diện hơn để nâng cao hiệu quả của chương trình, hệ thống theo dõi, giám sát được thực hiện từ cấp tỉnh đến cấp thôn, tổ dân phố đã cung cấp những thông tin kịp thời, chính xác, phản ảnh thực tế, làm cơ sở cho việc thực hiện các chính sách, giải pháp phù hợp hơn. Cần xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn cho cơ quan thường trực của Ban điều hành các cấp từ khâu kế hoạch đến hiệu quả cuối cùng việc thực hiện chương trình.
- Kịp thời phát hiện, khen thưởng và nhân rộng những mô hình xóa đói giảm nghèo có hiệu quả, những hộ nghèo tự lực vươn lên làm ăn khá, có chính sách khuyến khích những xã đặc biệt khó khăn phấn đấu vượt ra khỏi xã đặc biệt khó khăn, tạo nên một phong trào thi đua xóa đói giảm nghèo sâu rộng trong nhân dân.
Phần thứ hai
MỤC TIÊU CÁC GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO
GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
A. CĂN CỨ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH:
I. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo:
Trong thập kỷ qua cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến xóa đói, giảm nghèo. Mục tiêu xóa đói, giảm nghèo đã được thực hiện trong nhiều văn kiện Đại hội của Đảng:
- Nghị quyết TƯ 5 khóa VII đã nêu rõ: “Tăng thêm diện giàu và đủ ăn, xóa đói, giảm nghèo, nhất là vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng trước đây là căn cứ cách mạng”.
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định: “Thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo thông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo. Tiếp tục tăng tổng nguồn vốn xóa đói giảm nghèo, mở rộng các hình thức tín dụng trợ giúp người nghèo sản xuất kinh doanh”..., phấn đấu đến năm 2005 về cơ bản không còn hộ đói và chỉ còn khoảng 10% hộ thuộc diện nghèo”( theo chuẩn cũ).
- Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII khẳng định: “ Tiếp tục đẩy mạnh chương trình xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp, giải quyết việc làm và các chính sách xã hội..., giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 10% theo chuẩn mới vào năm 2010”.
I. Bối cảnh kinh tế - xã hội xây dựng chương trình mục tiêu giảm nghèo tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006-2010:
Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ XII và Nghị quyết của HĐND khóa IV, tỉnh Thừa Thiên Huế đã đạt được những thành tựu quan trọng. Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt trên 9,2%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng nông-lâm-ngư trong GDP giảm từ 23,3% năm 2001 xuống 20,08% năm 2004; Công nghiệp-Xây dựng tăng 31,55% năm 2001 lên 36,12% năm 2004 và Dịch vụ luôn duy trì mức đóng góp 44-45%/năm.
Giáo dục tiếp tục phát triển, chuyển biến khá tốt về chất lượng dạy và học: đến năm 2004 tỷ lệ học sinh đạt khá, giỏi và học sinh tốt nghiệp hàng năm đạt cao. Công tác phổ cập giáo dục THCS được đẩy mạnh, có 7/9 huyện, thành phố với 119/150 xã phường được công nhận đạt chuẩn phổ cập THCS. Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục đào tạo được nâng cấp, xây dựng mới, đến nay 100% xã/phường có trường tiểu học và mầm non.....Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, đã hình thành 36 trung tâm học tập cộng đồng và một số trường dân lập, tư thục.
Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố. Đến nay 100% xã/phường có trạm xá và được trang bị đủ dụng cụ cần thiết cho khám, chữa bệnh tuyến cơ sở, 100% trạm y tế có bác sỹ. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 22% vào năm 2005, tuổi thọ bình quân tăng lên đáng kể...
Hầu hết các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng núi, vùng bãi ngang ven biển các công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội, đều được hoàn thành theo kế hoạch đề ra.
Nhờ vậy, đã tăng năng lực sản xuất cho các ngành kinh tế, đời sống của các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2001-2005 giảm nhanh đáng kể còn 7% theo chuẩn cũ.
II. Thực trạng hộ nghèo theo chuẩn mới của tỉnh giai đoạn 2006-2010:
1. Số hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo và phân bổ hộ nghèo theo chuẩn mới:
Kết quả điều tra theo chuẩn nghèo mới tại thời điểm 1/7/2005, toàn tỉnh có 46.935 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 21,17% (Xem biểu 1 phần phụ lục)
Hộ nghèo tập trung đông ở khu vực nông thôn đồng bằng. Nếu tính theo tỷ lệ hộ nghèo thì khu vực nông thôn miền núi chiếm tỷ lệ cao nhất. (Xem Biểu 2 phần phụ lục)
Trong tổng số 46.935 hộ nghèo theo chuẩn mới, có 5.239 hộ nghèo là người đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 11,16% trong hộ nghèo (xem biểu 3 phần phụ lục)
2. Nguyên nhân nghèo theo chuẩn mới:
Qua kết quả điều tra xác định hộ nghèo năm 2005, nguyên nhân nghèo của các hộ nghèo như sau:
- Thiếu đất sản xuất:15,2%
- Thiếu công cụ: 5,4%
- Thiếu vốn sản xuất:31,5%
- Thiếu kinh nghiệm làm ăn:11,3%
- Thiếu lao động:13,2%
- Đông người ăn theo: 12,2%
- Có người ốm kéo dài:5,0%
- Có người mắc TNXH, lười LĐ:1,2%
- Có LĐ nhưng không tìm được việc làm:5,05%
- Ổn định
3. Thực trạng về việc làm, tình hình nhà ở, điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện sinh hoạt của hộ nghèo:
3.1 Về Lao động Việc làm:
Người nghèo chủ yếu tham gia các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp hoặc buôn bán nhỏ. Chỉ một số ít làm việc trong lĩnh vực công nghiệp-xây dựng hoặc không hoạt động kinh tế. (Xem biểu 4 phần phụ lục)
3.2 Về tình hình nhà ở và điều kiện sinh hoạt:
- Tổng số 46.935 hộ nghèo theo chuẩn mới, có 5.273 hộ nghèo chưa có nhà, phải ở nhờ hoặc đang ở nhà tạm bợ.
- Có 7.576 hộ nghèo chưa được sử dụng nước sạch và 1.820 hộ nghèo chưa được sử dụng điện.
3.3 Về điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ nghèo:
- Về đất sản xuất: trong tổng số 46.935 hộ nghèo, có 7.136 hộ nghèo thiếu đất sản xuất.
- Về phương tiện sản xuất: đa số hộ nghèo không có phương tiện sản xuất hiện đại, chủ yếu là dụng cụ máy móc thô sơ.
II. Đặc điểm và tính đa đạng của hộ nghèo:
1. Đặc điểm nghèo:
Sau gần 20 năm đổi mới, thu nhập và mức sống của đại đa số người dân đã được cải thiện, do vậy đặc điểm nghèo đói cũng có sự thay đổi. Trước đây là nghèo về lương thực, thực phẩm (nhu cầu ăn no, mặc ấm) cơ bản đã được giải quyết, đến nay và trong những năm tới là nghèo về phi lương thực, thực phẩm (nhu cầu về nhà ở, chăm sóc sức khỏe khi ốm đau, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp). Sự phân hóa giàu nghèo đang có xu hướng tiếp tục gia tăng do tác động của quá trính phát triển kinh tế, cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của sự phát triển cũng có sự khác biệt giữa nhóm giàu và nhóm nghèo.
2. Tính đa dạng của nghèo:
- Nghèo thể hiện ở việc thiếu ăn hàng năm từ 1-2 tháng, chủ yếu ở các xã miền núi, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng thường xuyên chịu tác động của thiên tai, hạn hán, lũ lụt.
- Nghèo thể hiện ở nhà cửa tạm bợ, tài sản, đồ dùng lâu bền không có hoặc có nhưng giá trị rất thấp. Hầu hết hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tài sản chỉ ở mức từ 1 triệu đến 2 triệu đồng.
- Nghèo thể hiện ở chỗ nông dân không có hoặc thiếu đất sản xuất do quá trình đô thị hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế song không kịp chuyển đổi nghề nghiệp hoặc không có tay nghề.
- Nghèo thể hiện ở việc thiếu điều kiện cơ bản để phát triển sản xuất, công cụ sản xuất thô sơ, thiếu vốn và chưa tiếp cận được với thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Nghèo thể hiện ở việc thiếu kiến thức sản xuất do trình độ văn hóa thấp, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông - lâm- ngư nghiệp, hoặc buôn bán nhỏ.
- Nghèo thể hiện ở việc con cái chỉ theo học ở bậc tiểu học, tỷ lệ bỏ học ở cấp Trung học cơ sở lớn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khi ốm đau không đủ điều kiện để được khám, chữa bệnh đầy đủ.
- Nghèo thể hiện ở chỗ không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, không có điều kiện để tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, con cái lang thang kiếm sống.
Ngoài ra còn có nhóm nghèo thuộc diện chính sách bảo trợ xã hội như người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật nặng. Những đối tượng này không thuộc đối tượng của chương trình giảm nghèo.
III. Cơ hội và thách thức đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo:
1. Cơ hội:
- Trong những năm qua, tỉnh luôn giữ mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định và dự kiến sẽ tiếp tục giữ nhịp độ tăng trưởng cao trong những năm tới. GDP đầu người năm sau cao hơn năm trước, kết hợp với sự ổn định về chính trị - xã hội. Tổng thu ngân sách cao là điều kiện để cung cấp nguồn lực cho giảm nghèo.
- Hệ thống hạ tầng cơ sở như điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, hệ thống thủy lợi, thông tin liên lạc... đã được xây dựng tương đối khá và từng bước phát huy tác dụng.
- Qua hơn 10 năm thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, đã tích lũy được nhiều kết quả và bài học kinh nghiệm về cơ chế, chính sách quản lý, điều hành, huy động nguồn lực và chỉ đạo thực hiện.
2. Thách thức:
- Chênh lệch khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng sẽ làm cho quá trình giảm nghèo bị chậm lại.
- Tỷ lệ hộ nghèo tập trung ở khu vực nông thôn miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số với trình độ canh tác, phong tục tập quán lạc hậu phân bổ đều khắp trên địa bàn của tỉnh. Kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn cao. Quá trình đô thị hóa đang diễn ra tác động trực tiếp đến đời sống của một bộ phận người dân khu vực thành thị có khả năng dẫn đến nghèo hoặc tái nghèo.
- Trong tiến trình mở cửa và hội nhập, nền kinh tế của cả nước nói chung và của tỉnh nói riêng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức do phải cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế, trong khi chất lượng phát triển còn thấp, hiệu quả chưa cao, sức cạnh tranh còn kém, nhất là giá cả nông sản không ổn định.
- Đội ngũ làm công tác giảm nghèo năng lực còn hạn chế ảnh hưởng đến khả năng quản lý điều hành chương trình ở cấp cơ sở; tư tưởng trông chờ, ỷ lại của người nghèo, xã nghèo, đồng bào dân tộc vẫn còn khá nặng nề.
B. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH:
I. Định hướng:
Định hướng chung về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 là: “Toàn diện hơn, công bằng hơn, bền vững hơn và hội nhập hơn”. Cụ thể:
1. Thực hiện chiến lược tăng trưởng kinh tế nhanh, coi đây là chìa khóa để giải quyết bài toán giảm nghèo. Hướng trọng tâm giảm nghèo vào phát triển nông nghiệp và nông thôn, tăng cường các hoạt động hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tự lực vươn lên thóat nghèo.
2. Phải đảm bảo tính xã hội hóa cao của Chương trình, trên cơ sở tạo thành một phong trào hành động cách mạng sâu rộng trong nhân dân; huy động sức mạnh của cộng đồng xã hội để hỗ trợ có hiệu quả cho người nghèo, hộ nghèo và vùng nghèo của tỉnh. Đa dạng hóa việc huy động nguồn lực cho giảm nghèo, trong đó tập trung phát huy nguồn lực tại chỗ trong dân.
3. Phải đảm bảo tính bền vững của chương trình, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng tái nghèo và phát sinh nghèo bằng hệ thống các chính sách hỗ trợ cho các hộ đã vượt nghèo.
4. Phải đảm bảo tính toàn diện và lâu dài của chương trình, thực hiện giảm nghèo bằng các giải pháp đầu tư hỗ trợ đồng bộ trên tất cả lĩnh vực đời sống của người nghèo, hộ nghèo. Đặc biệt chú trọng các biện pháp nâng cao dân trí, đào tạo nghề và giải quyết việc làm ổn định, tăng thu nhập để có tích lũy; gắn việc làm với chuyển biến về cách sống, lối sống văn minh cho người nghèo, hộ nghèo.
5. Tập trung ưu tiên nguồn lực cho các địa phương có tỷ lệ nghèo cao (các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) trên cơ sở tiêu chí phân bổ nguồn lực khách quan, công bằng dựa vào thực trạng nghèo và kết quả giảm nghèo. Kiên quyết không đầu tư cho những hộ nghèo, xã nghèo không quyết tâm thực hiện tốt công tác giảm nghèo.
6. Phải tính toán lộ trình thích hợp và đảm bảo hiệu quả thiết thực trong công tác đầu tư, hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trên tinh thần dân chủ, công khai và đảm bảo tính tiết kiệm, tránh lãng phí. Xây dựng được cơ chế phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố trong việc triển khai thực hiện chương trìnhvà xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá khách quan, chính xác và khoa học đối với công tác giảm nghèo.
7. Cải thiện sự tham gia của người dân, đặc biệt là phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, các nhóm yếu thế và các tổ chức đoàn thể xã hội vào mọi hoạt động của chương trình.
8. Người dân phải có ý chí tự lực vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng cho bản thân mình mà không trông chờ, ỷ lại nhà nước.
II. Mục tiêu, chỉ tiêu:
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% theo chuẩn mới vào cuối năm 2010. (Thu nhập bình quân trong hộ dưới 200.000đ/người/tháng đối với vùng nông thôn, và 260.000đ/người/tháng đối với vùng thành thị).
- Trong 5 năm giảm trên 24.757 hộ, bình quân mỗi năm giảm trên 4.951 hộ
- Tốc độ giảm nghèo theo mục tiêu đề ra: ( Biểu 5 phần phụ lục)
II. Các chỉ tiêu cụ thể cần đạt đến năm 2010:
1. Tăng nhanh thu nhập của nhóm hộ nghèo, đến cuối năm 2010, thu nhập của nhóm này tănggấp 1,5 lần so với năm 2006.
2. Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng cho 19 xã đặc biệt khó khăn vùng núi, 40 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, đầm phá. Đảm bảo các xã này đến năm 2010 có hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh đầy đủ.
3. 150.000 lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, bình quân mỗi năm có khoảng 30.000 lượt hộ được vay.
4. 100% số người nghèo khám, chữa bệnh miễn phí thông qua thẻ Bảo hiểm y tế hoặc qua Giấy chứng nhận hộ nghèo để thực hiện phương thức thực thanh, thực chi.
5.Phổ cập và cải thiện chất lượng giáo dục, và 100% học sinh thuộc con em hộ nghèo, học sinh đồng bào dân tộc thiểu số được miễn giảm học phí và đóng góp xây dựng trường.
6. Hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở cho ít nhất 5.273 hộ nghèo không có nhà hoặc nhà xiêu vẹo, dột nát không đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão.
7. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cung cấp về kiến thức pháp lý cho người nghèo.
8.Hỗ trợ dạy nghề cho người nghèo và nông thôn 2.000 người/năm
9. Giảm khả năng để bị tổn thương và phát triển mạng lưới an sinh xã hội, trợ giúp cho các đối tượng yếu thế và người nghèo.
10.Xây dựng ít nhất được 03 mô hình giảm nghèo bền vững gắn với đặc thù của các vùng sinh thái: miền núi, nông thôn đồng bằng, đô thị.
C. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
1. Nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa tầm quan trọng cũng như phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói cho các cấp, các ngành và mọi người dân, đặt biệt là người nghèo, xã nghèo. Giảm nghèo không phải chỉ là trách nhiệm của nhà nước, mà trước hết phải thuộc về từng cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng và trách nhiệm của toàn xã hội. Đây là một nội dung quan trọng của định hướng XHCN và là mấu chốt để thực hiện thành công chương trình giảm nghèo.
2. Xác định rõ trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, chính trị, xã hội và người dân về trách nhiệm vượt nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.
Tăng cường các hoạt động tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thiết lập kênh thông tin 2 chiều về thực hiện chương trình giảm nghèo từ cấp thôn, xóm đến cấp tỉnh và ngược lại.
Thiết lập mạng lưới tổ chức xã hội tự nguyện của chính người nghèo như nhóm tiết kiệm - tín dụng, nhóm tương trợ vượt nghèo, nhóm nông dân tự quản....
3. Nguồn vốn.
Tổng nguồn vốn cần thiết cho chương trình 800 tỷ đồng, trong đó chia theo các nguồn huy động là:
- Nguồn vốn hiện có của Ngân hàng Chính sách Xã hội (thực hiện tín dụng người nghèo) là: 300 tỷ đồng, chiếm 38,5 % tổng nguồn vốn.
- Ngân sách Trung ương hỗ trợ (dự kiến về chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo 2006-2010; ct 135; ct 134; ct 257; BHYT người nghèo) là: 250 tỷ đồng, chiếm 32,0% tổng nguồn vốn của chương trình.
- Ngân sách tỉnh cân đối cho chương trình là: 50 tỷ đồng, chiếm trên 5% tổng nguồn vốn của chương trình ( tập trung hỗ trợ xóa nhà tạm và đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo).
- Nguồn huy động từ cộng đồng và lồng ghép với các chương trình có liên quan là: 200 tỷ đồngchiếm 25,5% tổng nguồn vốn của chương trình.
4. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền.
Công tác giảm nghèo đã và đang được các cấp ủy Đảng, chính quyền hết sức quan tâm chỉ đạo thực hiện. Trong giai đoạn 2006-2010 các cấp, các ngành cần tăng cường hơn nữa, phải luôn đặt mục tiêu giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của cấp mình và đưa vào Nghị quyết của cấp ủy, HĐND; Gắn giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội trong việc xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn lực.
Thường xuyên theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra thực hiện phát triển kinh tế - xã hội với giảm nghèo trên địa bàn. Vận động nhân dân giúp nhau phát triển kinh tế, và phấn đấu vươn lên làm giàu.
I. Giải pháp về các cơ chế, chính sách thực hiện chương trình:
1. Về cơ chế:
1.1 Cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực:
a/ Về huy động nguồn lực:
Để đảm bảo đủ nguồn lực cho chương trình, cần áp dụng cơ chế huy động đa nguồn, bao gồm:
- Ngân sách TW (Trung ương hỗ trợ từ chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 cho một số chính sách, đề án của chương trình).
- Ngân sách tỉnh: Hằng năm bố trí ngân sách dành cho chương trình mục tiêu giảm nghèo.
- Ngân sách huyện: Tùy theo tình hình thực tế, bố trí ngân sách cho chương trình giảm nghèo của địa phương.
- Lồng ghép các nguồn lực của chương trình phát triển kinh tế xã hội khác của tỉnh với chương trình mục tiêu giảm nghèo.
- Nguồn lực của chính người nghèo thông qua việc tiết kiệm chi tiêu để đầu tư cho sản xuất và cải thiện nhà ở.
- Huy động sự tham gia của các cơ quan, đơn vị, các doanh nghiệp, công ty đóng trên địa bàn; Huy động sự đóng góp của nhân dân thông qua hệ thống MTTQ và các đoàn thể, huy động các tổ chức nhân đạo, từ thiện.
- Huy động sự đóng góp của các tổ chức quốc tế bằng việc tăng cường tiếp xúc và vận động các tổ chức quốc tế tham gia các dự án về giảm nghèo. Tạo cơ chế thuận lợi để các tổ chức quốc tế đầu tư vào các lĩnh vực giảm nghèo, đặc biệt là hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội cơ bản.
b.Về phân bổ nguồn lực:
Bảo đảm công khai, minh bạch và tập trung vào các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng nghèo trọng điểm, ưu tiên theo hình thức cuốn chiếu, bảo đảm đủ mức đầu tư, hỗ trợ để phát huy nhanh hiệu quả, không dàn trải; Việc phân bổ phải dựa trên hệ thống tiêu chí cụ thể cho từng loại đối tượng và từng chính sách, đề án một cách tối ưu nhất. Cụ thể cơ chế phân bổ nguồn lực như sau:
- Đối với các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo: (Hỗ trợ tín dụng, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, an sinh xã hội): Hàng năm các sở: Tài chính, Kế hoạch - Đầu tư, Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ thống nhất số lượng đối tượng được hỗ trợ trong năm để phân bổ nguồn vốn cho các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố chủ trì thực hiện các chính sách cho hộ nghèo, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội.
- Đối với các đề án, mô hình giảm nghèo tác động gián tiếp đến người nghèo:
- Dựa trên kế hoạch chi tiết triển khai thực hiện đề án, mô hình của các cơ quan chủ trì đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt, Sở Kế hoạch-Đầu tư, Sở Tài chính cân đối ngân sách và bố trí nguốn vốn vào kế hoạch ngân sách hàng năm để triển khai thực hiện đề án, mô hình.
- Hàng năm, trên cơ sở đánh giá của Ban Điều hành chương trình về kết quả thực hiện các mục tiêu của đề án, mô hình và kết quả giảm nghèo của các địa phương, các Sở Tài chính, Kế hoạch-Đầu tư, Lao động - Thương binh và Xã hội xem xét trình UBND tỉnh kế hoạch ngân sách cho năm tiếp theo. Áp dụng theo cơ chế, nếu năm trước thực hiện tốt thì năm sau tiếp tục thực hiện, ngược lại, nếu năm trước thực hiện chưa tốt thì năm sau giảm 25% nguồn vốn để tăng cho các đề án, mô hình có hiệu quả nhằm khuyến khích các địa phương, cơ quan triển khai đề án thực hiện tốt. Đối với việc phân bổ nguồn lực của từng đề án, các cơ quan chủ trì đề án cũng thực hiện theo cơ chế tương tự.
c. Về giám sát, quản lý sử dụng nguồn lực:
- Bảo đảm tính dân chủ, công khai, thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”trong quản lý và sử dụng nguồn lực gắn với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Thiết lập quy trình giám sát và hệ thống chỉ tiêu theo dõi chi tiêu chặt chẽ bảo đảm vốn được sử dụng “đúng mục tiêu, đúng đối tượng, có hiệu quả, không thất thoát”. Trong xây dựng cơ sở hạ tầng phải thực hiện nguyên tắc “xã có công trình, dân có việc làm và thu nhập”.
- Tăng cường và đề cao vai trò giám sát của HĐND các cấp trong việc sử dụng nguồn lực của chương trình. Có cơ chế kiểm soát thường xuyên, định kỳ ở cấp xã, nhất là xã có đầu tư cơ sở hạ tầng.
- Đối với các đề án, mô hình giảm nghèo, tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện đề án đối với các cơ quan chủ trì các đề án nhằm đảm bảo nguồn vốn đầu tư phải đem lại kết quả tương xứng với mục tiêu giảm nghèo. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu đề án, mô hình nào không mang lại hiệu quả thiết thực có thể xem xét nguồn vốn đầu tư cho đề án hoặc thậm chí ngưng hoàn toàn hoạt động của đề án để chuyển sang các đề án khác có hiệu quả hơn.
1.2 Cơ chế khuyến khích hộ, xã thoát nghèo:
- Đối với hộ mới thoát nghèo được hưởng các chính sách trợ giúp về tín dụng, khuyến nông-lâm-ngư, giáo dục, y tế, dạy nghề trong vòng 2 năm kể từ ngày được xác nhận thoát nghèo.
- Đối với các xã thoát ra khỏi danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo trọng điểm thì được tiếp tục hỗ trợ trong thời gian 1 năm để xây dựng bổ sung các công trình cần thiết và duy tu, bảo dưỡng.
- Đối với doanh nghiệp tổ chức dạy nghề và tiếp nhận người nghèo vào làm việc ổn định từ 2 năm trở lên thì được hỗ trợ một khoản kinh phí bằng mức trợ giúp của nhà nước cho người nghèo học nghề.
1.3 Cơ chế phân cấp:
Tăng cường phân cấp cho cơ sở trong việc tổ chức và thực hiện chương trình, cụ thể:
- Cấp xã: Xác định hộ nghèo công nhận hộ thóat nghèo, huy động nguồn lực tại chỗ, tổ chức thực hiện các chính sách và đề án trên địa bàn. Những nơi đủ điều kiện giao cho cấp xã làm chủ đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng.
- Cấp huyện: Huy động và phân bổ nguồn lực theo thẩm quyền; chỉ đạo, giám sát và đánh giá việc thực hiện của cấp xã; xác định đối tượng được trợ giúp của các chính sách, đề án; công nhận xã thoát nghèo.
- Cấp tỉnh: Xác định xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo trọng điểm; công nhận huyện, thành phố thoát nghèo. Phân bổ nguồn lực thực hiện các chính sách, đề án; Giám sát việc tổ chức thực hiện ở cấp huyện, xã.
1.4. Cơ chế vận hành chương trình:
- Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Ban Điều hành chương trình mục tiêu giảm nghèo tỉnh về các chính sách, đề án được phân công quản lý, đồng thời có trách nhiệm báo cáo định kỳ với cơ quan thường trực chương trình (Sở Lao động-TB&XH)
- Cơ quan thường trực chương trình (Sở Lao động-TB&XH) chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh, Ban Điều hành chương trình họp định kỳ tổ chức tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chương trình.
- Hàng năm, Ban Điều hành chương trình báo cáo Ban chủ nhiệm chương trình Trung ương (thông qua Bộ Lao động-TB&XH) kết quả thực hiện chương trình của tỉnh
2. Về chính sách và dự án:
Thực hiện theo các chính sách, dự án hoạt động của chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 nhưng có sửa đổi, bổ sung một số chính sách của tỉnh để phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Cụ thể hệ thống chính sách, đề án, hoạt động như sau: (Nội dụng cụ thể của từng chính sách, đề án, hoạt động được trình bày ở phần tham khảo)
2.1 Tổ chức thực hiện tốt các chính sách:
- Chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo.
- Chính sách hỗ trợ người nghèo, nhân dân các xã đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số về Y tế.
- Chính sách hỗ trợ người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số về giáo dục.
- Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở.
- Chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và nước sinh hoạt cho hộ nghèo.
- Chính sách an sinh xã hội.
2.2. Các đề án:
- Đề án phát triển cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng núi và vùng bãi ngang ven biển, đầm phá.
- Đề án khuyến nông-lâm-ngư và hướng dẫn người nghèo cách làm ăn.
- Đề án dạy nghề và tạo việc làm cho người nghèo.
- Đề án bố trí, phụ cấp và đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo.
- Đề án xây dựng và nhân rộng mô hình giảm nghèo có hiệu quả.
II. Quản lý, điều hành thực hiện dự án:
1. Kế hoạch hóa việc thực hiện chương trình:
- Các hoạt động về giảm nghèo phải được xây dựng kế hoạch hàng năm từ cấp tỉnh đến cấp xã. Việc xây dựng kế hoạch giảm nghèo phải gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và thống nhất với các ngành.
- Các cơ quan chủ trì thực hiện các chính sách, đề án, hoạt động của chương trình phải xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện chính sách, đề án, hoạt động trong 5 năm và hàng năm để làm cơ sở phân bổ nguồn lực và triển khai thực hiện.
2. Tổ chức và cán bộ:
2.1 Hình thành tổ chức, chỉ đạo ở các cấp:
- Kiện toàn Ban Điều hành chương trình mục tiêu về giảm nghèo các cấp; Hình thành bộ phận giúp việc chuyên trách điều hành chương trình ở cấp tỉnh và huyện để nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành và phối kết hợp giữa các hợp phần của chương trình.
- Tạo cơ chế quản lý phù hợp để cơ quan thường trực chương trình và các cơ quan chuyên ngành ở các cấp có đủ thẩm quyền, đủ năng lực để quản lý chương trình. Khắc phục tình trạng trách nhiệm không đi đôi với thẩm quyền như trong giai đoạn vừa qua.
- Tăng cường đội ngũ chuyên trách về giảm nghèo và cán bộ khuyến nông ở cấp xã, nhất là các xã trọng điểm về nghèo. Đây là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính mục tiêu của chương trình và đưa các chính sách của chương trình đi vào đời sống.
2.2 Phân công trách nhiệm giữa các cấp, các ngành:
- Các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của ngành có trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh, cụ thể hóa các chính sách, đề án của chương trình do ngành chủ trì thực hiện, bao gồm: kế hoạch tổng thể triển khai đề án, chính sách trong giai đoạn 2006-2010; nguồn vốn để thực hiện; các mục tiêu phải đạt được,....
3. Theo dõi, kiểm tra, giám sát:
- Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu ban đầu dựa trên kết quả điều tra, xác định hộ nghèo tháng 7 năm 2005. Bộ cơ sở dữ liệu này sẽ là cơ sở thực hiện tất cả các chính sách, đề án của chương trình.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu theo dõi kết quả giảm nghèo, kết quả thực hiện các chính sách, đề án. từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở (thôn, cụm, tổ ..) thông qua báo cáo của các ban, ngành thực hiện chương trình và các cấp chính quyền; đảm bảo thông tin được thu nhập khách quan, chính xác và khoa học; Ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào công tác giảm nghèo như: Xây dựng các phần mềm xử lý dữ liệu; xây dựng hệ thống bản đồ thông tin giảm nghèo hàng năm, nối mạng và vi tính hóa công tác quản lý hộ nghèo từ cấp tỉnh đến cấp huyện.
- Hàng năm tổ chức điều tra mẫu (hoặc phúc tra) danh sách, số lượng hộ nghèo nhằm đảm bảo tính chính xác, khách quan của kết quả giảm nghèo. Đến giữa năm 2008 tổ chức khảo sát, xác định lại danh sách hộ nghèo toàn tỉnh để đánh giá chính xác hiện trạng hộ nghèo của tỉnh.
- Tổ chức tổng kết chương trình hàng năm; đánh giá giữa kỳ vào năm 2008 và đánh giá tổng kết chương trình vào cuối năm 2010.
Phần thứ ba
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, quản lý điều hành của chính quyền các cấp, các ngành phối hợp với tổ chức đoàn thể chính trị tập trung thực hiện theo chức năng nhiệm vụ được phân công dưới đây:
I. Đối với các sở, ban, ngành:
1. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Là cơ quan thường trực của Ban Điều hành chương trình giúp UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.
- Chủ trì, phối hợp với các ngành, các địa phương trong việc xác định đối tượng và thực hiện một số đề án, chính sách của Chương trình (đào tạo nghề gắn với việc làm; đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo; xây dựng hệ thống thông tin; chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; Chính sách an sinh xã hội; Xây dựng và nhân rộng mô hình giảm nghèo; hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức).
- Theo dõi, đánh giá và giám sát việc thực hiện Chương trình của các ngành, các địa phương. Phối hợp với Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Tài chính trong việc phân bổ nguồn lực thực hiện các chính sách, đề án.
2. Sở Kế hoạch - Đầu tư:
- Cân đối và phân bổ nguồn lực cho chương trình; phối hợp với các sở, ngành liên quan hướng dẫn các địa phương xây dựng, tổng hợp kế hoạch, cân đối ngân sách, lồng ghép và huy động nguồn lực để thực hiện chương trình giảm nghèo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Phối hợp với các Sở, ngành liên quan định kỳ kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện, đảm bảo các chính sách hỗ trợ đúng mục đích, đúng đối tượng.
- Phối hợp với các Sở, ngành lập danh mục các dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước về lĩnh vực giảm nghèo của địa phương.
3. Sở Tài chính:
Phối hợp với Sở Kế hoạch - Đầu tư trong việc cân đối và phân bổ nguồn lực của Chương trình; Xây dựng cơ chế quản lý, chi tiêu tài chính cho các chính sách, đề án của Chương trình.
4. Sở Nội vụ:
Xem xét bố trí đội ngũ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm và có tâm huyết làm công tác giảm nghèo; Xây dựng cơ chế phụ cấp lương và chế độ đãi ngộ đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp (đặc biệt là cấp cơ sở và cán bộ khu vực miền núi).
5. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
- Chủ trì và phối hợp với Sở Lao động-TB&XH thực hiện đề án khuyến nông - lâm - ngư và hướng dẫn người nghèo cách làm ăn.
- Phối hợp với UBND các huyện, thành phố (đặc biệt là hai huyện Nam Đông, A Lưới) trong việc hướng dẫn hộ nghèo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán.
6. Sở Y tế:
Chủ trì thực hiện chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo.
7. Sở Giáo dục - Đào tạo:
Chủ trì thực hiện chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo.
8. Ban Dân tộc:
Chủ trì thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số theo QĐ 135, 134/QĐ-TTg.
9. Ngân hàng Chính sách Xã hội:
- Chủ trì thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng cho người nghèo; xây dựng và trình UBND tỉnh quy chế cho vay hộ nghèo trong giai đoạn 2006- 2010 phù hợp với định hướng của Chương trình này.
- Chủ trì phối hợp với Sở Lao động-TB&XH trong việc xây dựng và trình UBND tỉnh ban hành các quy chế hoạt động của mô hình "Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động cho đối tượng nghèo".
10. Sở Văn hóa - Thông tin, Đài Phát thanh - Truyền hình, Báo Thừa Thiên Huế:
Phối hợp với Sở Lao động-TB&XHtrong hoạt động tăng cường và đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng và người nghèo về công tác xóa đói giảm nghèo.
11. Các Sở, Ban, Ngành liên quan:
Tùy theo chức năng và nhiệm vụ của mình để phối hợp thực hiện chương trình.
II. Đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố:
- Phối hợp với Sở Lao động-TB&XH tổ chức xác định số hộ nghèo, người nghèo hàng năm trên địa bàn quản lý; đánh giá đúng thực trạng nghèo đói của địa phương, phân tích rõ nguyên nhân nghèo để có giải pháp phù hợp; xây dựng kế hoạch cụ thể để chỉ đạo thực hiện; nhân rộng các mô hình, cách làm có hiệu quả.
- Ứng dụng tiến bộ của công nghệ thông tin vào việc quản lý; Xây dựng bản đồ thông tin nghèo đói của địa phương mình, xác định những vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, những địa bàn trọng điểm nhằm tập trung nguồn lực đầu tư có hiệu quả.
- Tổng hợp nguồn vốn hỗ trợ của ngân sách tỉnh, các huyện, thành phố cần huy động nguồn lực tại chỗ, trong dân, vận động sự tham gia của các doanh nghiệp trên địa bàn để tổ chức thực hiện chương trình. Thực hiện có hiệu quả việc lồng ghép nguồn lực từ các chương trình, đề án trên địa bàn cho mục tiêu giảm nghèo.
- Đối với đề án hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo trọng điểm, UBND các huyện, thành phố là cơ quan chủ trì. Trong quá trình thực hiện đề án, cần xem xét nếu cấp xã có đủ điều kiện thì giao cho cấp xã làm chủ đầu tư.
- UBND huyện Nam Đông, A Lưới: chủ trì thực hiện đề án hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội hai huyện miền núi Nam Đông, A Lưới.
- UBND huyện A Lưới: chủ trì thực hiện mô hình "Trung tâm hỗ trợ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số".
III. Đối với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn:
- Xây dựng mục tiêu, kế hoạch và biện pháp giảm nghèo của xã, phường trên cơ sở chương trình giảm nghèo của huyện, Thành phố; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội của xã; Nghị quyết của Đảng ủy, HĐND xã, phường, thị trấn.
- Tổ chức điều tra tình trạng nghèo, lập danh sách, phân loại đối tượng, nguyên nhân nghèo trên địa bàn; hàng năm, theo dõi hộ thoát nghèo, các hộ mới rơi vào diện nghèo.
- Phối hợp với MTTQVN và các tổ chức đoàn thể triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo trên địa bàn.
- Tổ chức thực hiện chính sách, các biện pháp hỗ trợ hộ nghèo và tham gia quản lý các công trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn theo chỉ đạo và phân bổ nguồn vốn của cấp trên.
- Tổ chức thực hiện lồng ghép các hoạt động khác với nhiệm vụ giảm nghèo; Xây dựng các tổ, nhóm tương trợ giúp nhau làm ăn; Xây dựng và nhân rộng mô hình thành đạt trong hoạt động giảm nghèo; Huy động nguồn lực tại cộng đồng để thực hiện mục tiêu của chương trình.
- Hướng dẫn, tổ chức nhân dân thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong hoạt động giảm nghèo.
- Tổ chức sơ kết, tổng kết thi đua khen thưởng đối với tập thể và cá nhân có thành tích trong công tác giảm nghèo.
IV. Đối với UBMTTQVN tỉnh, các tổ chức đoàn thể và tổ chức xã hội:
- Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, các tổ chức xã hội và các doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh việc huy động, hỗ trợ nguồn lực, phối hợp có hiệu quả trên từng địa bàn; đẩy mạnh xã hội hóa chương trình giảm nghèo, với phương châm "lá lành đùm lá rách", động viên toàn xã hội tham gia thực hiện mục tiêugiảm nghèo.
- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào "Ngày vì người nghèo", xây dựng các mô hình giảm nghèo hiệu quả trong các Hội, đoàn thể, vận động những hội viên, đoàn viên có kinh tế khá giả tình nguyện giúp đỡ các hộ nghèo.
- Phối hợp với chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư tập trung giáo dục, thuyết phục làm chuyển biến tư tưởng, nhận thức của những hộ nghèo thuộc diện lười lao động, tệ nạn xã hội, để giúp họ vươn lên thoátnghèo.
KẾT LUẬN
Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010 có vị trí hết sức quan trọng, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Điểm mới của chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 là tập trung nguồn lực hỗ trợ cho vùng trọng điểm khó khăn nhất, đối tượng khó khăn nhất; tăng tính chủ động cho các địa phương, cơ sở trong công cuộc giảm nghèo.
Chương trình mục tiêu về giảm nghèo tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006-2010 được xây dựng dựa trên cơ sở các chính sách, đề án của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo của Trung ương, đồng thời kết hợp với thực trạng về công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh trong những năm qua, giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong giai đoạn trước. Với hệ thống các chính sách, đề án giảm nghèo đồng bộ, cơ chế phân bổ nguồn lực rõ ràng, giải pháp về đội ngũ cán bộ và cơ chế thực hiện, Chương trình mục tiêu giảm nghèo tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006- 2010 sẽ đảm bảo việc triển khai thực hiện công tác giảm nghèo được đồng bộ và hiệu quả hơn.
Thừa Thiên Huế xây dựng chương trình mục tiêu giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2006-2010 trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, song cũng có những khó khăn, thách thức, đòi hỏi trách nhiệm, sự nỗ lực của từng ngành, từng địa phương và sự phấn đấu vươn lên của chính bản thân từng hộ nghèo để đạt mục tiêu chung “phấn đấu đến năm 2010, đạt tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn bình quân của cả nước”.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Ngô Hòa
Lược đồ văn bản
Tải về & chia sẻ
Văn bản liên quan
Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật
Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.