📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Nghị quyếtHết hiệu lực

Nghị quyết số 30 /NQ-HĐND12 Về nhiệm vụ kinh tế - xã hội thành phố năm 2002.

📄 Số hiệu: 30 /NQ-HĐND12🏛️ Hội đồng nhân dân Thành phố Hải Phòng📅 11/01/2002

Thuộc tính văn bản

Số hiệu30 /NQ-HĐND12
Loại văn bảnNghị quyết
Cơ quan ban hànhHội đồng nhân dân Thành phố Hải Phòng
Người kýTrần Sáng — Chủ tịch
Ngày ban hành11/01/2002

Trích yếu nội dung

Nghị quyết số 30 /NQ-HĐND12 Về nhiệm vụ kinh tế - xã hội thành phố năm 2002.

Nội dung toàn văn

Document Content

body { font-family: Arial, sans-serif; margin: 20px; line-height: 1.6; } p { margin: 10px 0; }

NGHỊ QUYẾT

Về nhiệm vụ kinh tế - xã hội thành phố năm 2002.

Hội đồng nhân dân thành phố khoá 12, họp kỳ thứ 7 từ ngày 9 đến 11/01/2002. Sau khi nghe Uỷ ban nhân dân thành phố báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội thành phố năm 2001; nhiệm vụ năm 2002. Báo cáo kế hoạch xây dựng cơ bản và dự toán ngân sách thành phố năm 2002. Nghe báo cáo thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân thành phố và ý kiến tham gia của nhân dân thành phố.

Hội đồng nhân dân thành phố đã thảo luận và quyết nghị:

1. HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÁN THÀNH BÁO CÁO CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ NĂM 2001 TRÌNH TẠI KỲ HỌP.

2. VỀ NHIỆM VỤ NĂM 2002:

Năm 2002 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, năm thứ hai thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ 12 Đảng bộ thành phố. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, song khó khăn, thử thách còn rất gay gắt.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2002, Hội đồng nhân dân thành phố chủ trương: Tiếp tục động viên cao các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn. Tập trung phát triển một số ngành kinh tế trọng điểm tạo các sản phẩm mũi nhọn, mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2001 một cách bền vững. Tiếp tục thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, ngăn chặn và đẩy lùi tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí. Quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là các vấn đề xã hội bức xúc. Nâng cao hơn nữa đời sống của nhân dân. Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phấn đấu hoàn thành vượt mức các nhiệm vụ, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2002, tạo đà, tạo thế phát triển những năm sau.

A. Một số chỉ tiêu chủ yếu (so với năm 2001).

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 10,5 - 11%/năm.

- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17 - 17,5%/năm.

- Giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản tăng 5-6%/năm, trong đó thuỷ sản tăng 20%.

- Giá trị dịch vụ tăng 11%.

- Hàng hoá thông qua Cảng tăng 6% trở lên, đạt trên 9 triệu tấn.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trên 20%, đạt 471 triệu USD.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 18%, đạt 6.500 tỷ đồng.

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng 6,5%. Trong đó thu nội địa tăng 7-8%.

- Thu hút 1,4 triệu khách du lịch trở lên, tăng 16%.

- Giải quyết việc làm cho 3,6 vạn lao động, tăng 5,8%.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,03%.

- Tỷ lệ hộ nghèo còn 10,0%.

B. Nhiệm vụ cụ thể và các giải pháp chủ yếu:

1. Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.

Thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động vốn; Vốn ngân sách, tín dụng, đầu tư nước ngoài, đầu tư của các Tổng Công ty và các thành phần kinh tế khác. Phấn đấu đạt 6.500 tỷ đồng tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó nguồn nội lực chiếm 70% và quản lý sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả. Tập trung đầu tư cho các công trình trọng điểm, khu đô thị Ngã 5 - Sân bay Cát Bi, đường 353 Hải Phòng - Đồ Sơn, đường xuyên đảo, Công viên An Biên, cầu Bính, cầu Kiến An, Dự án cấp nước 1A, Thoát nước 1B, đê, kè phòng chống bão lũ. Tiếp tục đề nghị các Bộ, ngành Trung ương để thực hiện kế hoạch nâng cấp đường Ngô Quyền, Lán Bè, cải tạo các hồ điều hoà, kênh thoát nước.

Thực hiện hỗ trợ vốn đầu tư đối với các dự án sản xuất chế biến hàng xuất khẩu. Mở rộng điều kiện cho vay đối với các doanh nghiệp theo nguyên tắc lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển và các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Tập trung đầu tư cho các sản phẩm đạt chất lượng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường; Rà soát lại các dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài, kiên quyết rút giấy phép đối với những dự án không triển khai hoặc không có khả năng thực hiện. Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư để có nhiều dự án mới, chủ động tham gia vào lộ trình hội nhập AFTA, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ.

Thực hiện tốt Luật Ngân sách phấn đấu thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt trên 4.905 tỷ đồng, tăng 6,5% trong đó thu nội địa tăng 7 - 8%, triệt để tiết kiệm chi, chống lãng phí, tiết kiệm 5% trong chi hành chính; đồng thời nghiên cứu để tiếp tục thực hiện tiết kiệm trong xây dựng cơ bản.

Tiếp tục xây dựng và thực hiện các cơ chế, gắn với cải cách thủ tục hành chính, tạo thông thoáng, hấp dẫn để khuyến khích, ưu đãi, thu hút các nhà đầu tư.

2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giữ vững nhịp độ phát triển các ngành kinh tế trọng điểm.

- Tập trung chỉ đạo sắp xếp, đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, ưu tiên đầu tư phát triển các ngành cơ khí, nhất là đóng tàu, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp chế biến, công nghệ cao. Nâng cao tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm hàng hoá. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Nhà máy Xi măng Hải Phòng mới, các nhà máy phân bón DAP, sản xuất phôi thép, kim loại màu. Tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các dự án của Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam tại Hải Phòng, Thủy sản Hạ Long; Tổng Công ty Lắp máy, Dệt may, xuất khẩu thực phẩm. Tạo điều kiện phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh, tăng đầu tư, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống. Sớm đưa tất cả các dự án của cụm công nghiệp Vĩnh Niệm vào hoạt động, khẩn trương xây dựng thêm cụm công nghiệp Quán Trữ, Sở Dầu, Đông Hải. Đẩy mạnh việc chuyển các cơ sở sản xuất công nghiệp ra ngoại thành. Tìm giải pháp để thu hút các dự án vào khu công nghiệp Nomura, Đình Vũ, Khu chế xuất.

Phấn đấu đạt giá trị công nghiệp trên địa bàn tăng từ 17 - 17,5% so với năm 2001.

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá đạt giá trị cao trên một đơn vị diện tích. Chuyển đổi ruộng đất ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn. Tích cực chuyển diện tích trồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả có năng suất, chất lượng cao cho việc sản xuất giống để nâng cao chất lượng các giống cây trồng, con nuôi gắn với quy hoạch vùng sản xuất cây con phục vụ các cơ sở chế biến nông sản xuất khẩu . Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Phát triển kinh tế VAC, kinh tế trang trại. Đẩy mạnh chương trình phòng hộ, trồng rừng sinh thái, phủ xanh đất trống đồi trọc, chương trình kiên cố hoá kênh mương, phòng chống thiên tai. Phấn đấu đạt giá trị 37 triệu đồng/ha và đạt năng suất lúa bình quân mỗi vụ trên 52 tạ/ha. Giá trị sản xuất ngành nông - lâm - thuỷ sản tăng 5 - 6%.

- Tăng cường chỉ đạo và đầu tư, phát triển mạnh cả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Tiếp tục thực hiện 5 chương trình của ngành Thuỷ sản và xây dựng những dự án mới về nuôi theo phương pháp công nghiệp, nuôi đặc sản, nuôi lồng bè, dịch vụ - hậu cần, chế biến, bảo vệ nguồn lợi. Mở rộng diện tích nuôi bán thâm canh; phát huy tác dụng các dự án đánh cá xa bờ. Phấn đấu đạt sản lượng 5,7 vạn tấn tôm cá, giá trị xuất khẩu tăng 20%, giá trị sản xuất toàn ngành 460 tỷ đồng, tăng 20%.

- Tập trung triển khai có hiệu quả các giải pháp phát triển thương mại - thị trường và các chương trình xuất khẩu theo tinh thần Nghị quyết số 04 Ban Thường vụ Thành uỷ (Khoá XI). Sớm hình thành Trung tâm thương mại, hội chợ, các siêu thị. Nâng cấp các chợ thuộc thị tứ, các huyện, thị xã, chú ý thị trường tiêu thụ nông sản cho nông dân. Thực hiện tốt các giải pháp kích cầu, tăng sức mua trong các khu vực dân cư, nhất là nông thôn - hải đảo gắn với vận động, khuyến khích dùng hàng nội địa. Tăng cường quản lý thị trường, đẩy mạnh đấu tranh chống buôn lậu và gian lân thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, mở rộng văn minh thương nghiệp. Triển khai các giải pháp, phấn đấu đạt tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 471 triệu USD, tăng trên 20%.

- Phát triển đa dạng các loại hình du lịch, tăng sức hấp dẫn khách đến và lưu trú. Mở rộng hơn nữa du lịch sinh thái biển vùng Cát Bà, Vịnh Lan Hạ, Đồ Sơn, Vịnh Hạ Long. Nâng cấp cơ sở hạ tầng và xây dựng thêm các điểm vui chơi giải trí ở các khu du lịch Đồ Sơn, Cát Bà. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng điểm du lịch Công viên rừng Thiên Văn, Núi Voi, Đền trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và các điểm khác. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để triển khai nhanh các dự án thuộc chương trình du lịch Quốc gia; phấn đấu đạt trên 1,4 triệu lượt khách du lịch, tăng trên 16%. Phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng các hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn. Tăng mức đầu tư xây dựng giao thông nông thôn. Tích cực đề nghị Trung ương lập dự án xây dựng Ga Hải Phòng và hệ thống đường sắt mới. Tiếp tục đầu tư nâng cấp Sân bay Cát Bi. Mở rộng vận tải sông - biển, trước hết là các tuyến đi Cát Bà, Móng Cái, Quảng Ninh. Tiếp tục triển khai dự án cải tạo, nâng cấp, khơi sâu luồng Cảng Hải Phòng giai đoạn 2, trước mắt là đảm bảo cho tầu trên 1 vạn tấn ra vào; hiện đại hoá công nghệ và phương tiện bốc xếp, đưa sản lượng hàng hoá thông qua Cảng lên trên 9 triệu tấn, tăng 6% trở lên.

3. Tăng cường công tác quản lý đô thị và đầu tư phát triển.

Tiếp tục xây dựng và thực hiện các cơ chế chính sách mới để tiếp tục phát triển đô thị theo hướng trở thành đô thị trung tâm cấp quốc gia. Triển khai sâu rộng phong trào lạp lại trật tự an toàn giao thông, vệ sinh môi trường và xây dựng nếp sống văn minh đô thị tạo chuyển biến rõ rệt, vững chắc, từng bước xây dựng thành tác phong sinh hoạt, nếp sống hàng ngày của nhân dân.

Tăng đầu tư xây dựng, nâng cấp các thị trấn, thị tứ, thực hiện tốt chương trình điện - đường - trường - trạm, kiên cố hoá kênh mương, đẩy nhanh quá trình đô thị hoá và xây dựng nông thôn mới. Hoàn thành công tác quy hoạch chi tiết quận Kiến An, quận Ngô Quyền và thị xã Đồ Sơn, thị trấn Cát Bà; Các khu đô thị mới Ngã 5 - Sân bay Cát Bi, Hồ Sen - Cầu Rào II, khu đô thị Bắc sông Cấm, khu đô thị mới Cựu Viên - Kiến An, đường 353 ... Công bố công khai và cắm mốc giới để quản lý, đẩy nhanh công tác xây dựng quy hoạch chi tiết khu vực, ngành và địa phương và công khai để mọi người biết. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nghiêm và kịp thời xây dựng theo quy hoạch, kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm. Tại kỳ họp này, Hội đồng nhân dân thành phố sẽ tiếp tục quyết định một số cơ chế về đất và giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện xây dựng công trình công cộng.

4. Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc.

- Hoàn thành việc xây dựng các chiến lược phát triển khoa học công nghệ và nâng cao trình độ công nghệ, trước hết là đối với các ngành kinh tế trọng điểm, các sản phẩm mũi nhọn; cần tập trung chỉ đạo triển khai Trung tâm công nghệ phần mềm bảo đảm đúng hướng, có hiệu quả. Hỗ trợ các doanh nghiệp áp dung hệ thống quản lý chát lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Tiến hành các giải pháp cấp bách khắc phục tình trạng các cơ sở sản xuất trong khu vực nội thành gây ô nhiễm môi trường.

- Tiếp tục chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương và Thành uỷ về giáo dục - đào tạo, cụ thể hoá các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, có kế hoạch triển khai công tác phổ cập bậc trung học và dạy nghề theo Nghị quyết của Thành uỷ; Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng giảng dạy ở các cấp học, các ngành học, các loại hình đào tạo, nhất là khu vực ngoài công lập. Xử lý nghiêm cá nhân, tập thể vi phạm trong day thêm tràn lan và thu không đúng quy định. Tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ giáo viên. Đẩy mạnh xã hội hoá. Đầu tư nâng cấp, xây dựng hệ thống trường xanh, sạch, đẹp, trường chuẩn, lớp chuẩn. Tăng đầu tư cho giáo dục mầm non ngoại thành từ các khoản thu tiết kiệm.

- Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, không để dịch bệnh xẩy ra, hạn chế lây nhiếm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư. Triển khai đồng bộ các chương trình y tế có mục tiêu, nâng cao chất lượng hoạt động của ngành Y tế, nhất là y tế cơ sở, đa dạng hoá các loại hình khám chữa bệnh; tạo sự chuyển biến rõ nét về y đức. Chấn chỉnh công tác quản lý, hành nghề y, dược tư nhân, bảo đảm an toàn thuốc chữa bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm.

- Nâng cao hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá". Nhân rộng mô hình xây dựng khu dân cư "5 không". Tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 15 của Ban Thường vụ Thành uỷ về "Thực hiện nếp sống văn hoá, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan". Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị định 87 /CP về tăng cường quản lý, thiết lập trật tự kỷ cương trong hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng và chỉ đạo công tác quản lý kinh doanh dịch vụ văn hoá, xuất bản, báo chí. Tiếp tục đầu tư từng bước hiện đại hoá hệ thống thông tin đại chúng từ thành phố đến cơ sở. Đẩy mạnh phong trào thể thao quần chúng theo hướng xã hội hoá; coi trọng đầu tư cho lĩnh vực thể thao thành tích cao, quyết tâm giữ vững vị trí Hải Phòng là một trung tâm thể thao mạnh của cả nước.

- Thực hiện có hiệu quả chương trình quốc gia về việc làm và các chương trình tài trợ nhân đạo, tăng đầu tư cao hơn năm 2001, đảm bảo giải quyết việc làm ổn định cho 3,6 vạn lượt lao động. Thực hiện tốt chính sách đối với người có công với nước, chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Mở rộng phong trào trợ giúp - tình nghĩa, bảo đảm mức sống các gia đình chính sách, các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Hạ thấp tỷ lệ hộ nghèo xuống 10% (theo chuẩn mới).

Triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp đấu tranh phòng chống, ngăn chặn, đẩy lùi có kết quả các tệ nạn đặc biệt là ma tuý, cờ bạc, mại dâm.

5. Sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp Nhà nước, phát triển mạnh khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.

Tập trung sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước. Đẩy mạnh công tác cổ phần hoá, bán, khoán cho thuê doanh nghiệp; kiên quyết xử lý những doanh nghiệp thua lỗ kéo dài; thực hiện lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp. Tập trung đầu tư cho những doanh nghiệp nòng cốt, tạo những sản phẩm mũi nhọn, có khả năng tạo giá trị sản xuất lớn và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong quá trình tham gia hội nhập khu vực và quốc tế.

Năm 2002, thành phố xác định là "Năm doanh nghiệp"; Uỷ ban nhân dân thành phố sớm xây dựng chương trình cụ thể và tập trung chỉ đạo thực hiện phương án sắp xếp doanh nghiệp, phấn đấu chuyển đổi sở hữu từ 25 - 30 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hoá 15 - 18 doanh nghiệp; bán khoán cho thuê từ 10 - 12 doanh nghiệp, giải thể 7 doanh nghiệp thua lỗ kéo dài; sáp nhập, hợp nhất 10 doanh nghiệp.

Tiếp tục chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã. Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. Khắc phục kịp thời tình trạng chậm trễ trong việc cấp đất, giải quyết vốn và tình trạng hình sự hoá các quan hệ kinh tế.

6. Quốc phòng an ninh - trật tự - xã hội.

Tăng cường sự phối hợp và đẩy mạnh hoạt động của các ngành, cơ quan bảo vệ pháp luật trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng công tác quốc phòng địa phương: Tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ an ninh trật tự xã hội. Nắm chắc tình hình, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước, bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh văn hoá - tư tưởng, an ninh nông thôn. Tập trung giải quyết ngay, dứt điểm những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không để phát sinh điểm nóng, tình huống phức tạp, bất ngờ. Đẩy manh thực hiện các chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, trọng tâm là đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, các tội phạm nguy hiểm. Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội, ma tuý, mại dâm, cờ bạc.

Nâng cao chất lượng công tác hoạt động tự pháp, điều tra, xét xử, thi hành án, nhất là án dân sự, khắc phục tình trạng tồn đọng hiện nay. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật, kỷ cuơng phép nước trong các khu vực dân cư để giảm vụ việc vi phạm.

7. Tiếp tục đổi mới phương pháp chỉ đạo, điều hành, quản lý của chính quyền theo hướng sâu sát, cụ thể, đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân, tập thể. Nhanh chóng đưa ra chương trình biện pháp cụ thể để khắc phục yếu kém trong cải cách thủ tục hành chính và công tác tổ chức cán bộ. Nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý, nhất là lĩnh vực đất đai, tiền vốn, tài sản và quản lý đô thị. Kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm gây phiền hà, tham nhũng. Tổ chức tốt cuộc bầu cử Quốc hội tại Hải Phòng.

Nhiệm vụ năm 2002 rất nặng nề, khó khăn còn nhiều, Hội đồng nhân dân thành phố kêu gọi các cấp, các ngành, toàn dân, toàn quân thành phố cố gắng phấn đấu hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thành phố năm 2002, đáp ứng yêu cầu của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng của nhân dân./.

Nơi nhận:

- VPQH, CP, CTN

- Đ/c Bí thư, Phó Bí thư TTTU

- TTHĐND - UBND TP

- ĐB Quốc hội tại HP

- ĐB HĐND TP

- TTHĐND - UBND các huyện, quận, thị xã

- Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể

- CPVP TU, UBND TP

- Đài PTTH, Báo HP

- CVTH: HĐND - UBND TP

- Lưu HS kỳ họp.

TM. HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Trần Sáng

Lược đồ văn bản

Tải về & chia sẻ

Chia sẻ:

Văn bản liên quan

Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật

Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.

Tra cứu văn bản