📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Trang chủ / Văn bản pháp luật / 180/2000/NQ-HĐ VI
Nghị quyếtCòn hiệu lực

Nghị quyết số 180/2000/NQ-HĐ VI Về nhiệm vụ năm 2001

📄 Số hiệu: 180/2000/NQ-HĐ VI🏛️ Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Phước📅 07/07/2000

Thuộc tính văn bản

Số hiệu180/2000/NQ-HĐ VI
Loại văn bảnNghị quyết
Cơ quan ban hànhHội đồng nhân dân tỉnh Bình Phước
Người kýNguyễn Hữu Luật — Chủ tịch
Ngày ban hành07/07/2000
Ngày hiệu lực07/07/2000

Trích yếu nội dung

Nghị quyết số 180/2000/NQ-HĐ VI Về nhiệm vụ năm 2001

Nội dung toàn văn

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂNTỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 180/2000/NQ-HĐ VI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc Bình Phước, ngày 07 tháng 7 năm 2000

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
KHÓA VI - KỲ HỌP THỨ BA
(Từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 12 năm 2000)

NGHỊ QUYẾT
Về nhiệm vụ năm 2001

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Căn cứ Điều 31 của Luật Tổ chức HĐND và UBND đã được Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa IX thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;

- Trên cơ sở xem xét báo cáo của UBND tỉnh, báo cáo của các cơ quan hữu quan, báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND và ý kiến của các đại biểu HĐND,

QUYẾT NGHỊ:

HĐND tỉnh cơ bản tán thành đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2000, phương hướng, nhiệm vụ năm 2001 với các chỉ tiêu, giải pháp được nêu trong báo cáo của UBND tỉnh và báo cáo của các cơ quan hữu quan, báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh, đồng thời HĐND tỉnh nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:

I/ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NĂM 2000:

HĐND tỉnh nhận định : Trong năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục giữ vững được sự ổn định và có bước phát triển theo hướng tích cực. Phần lớn các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều đạt và vượt so với Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá (9,5% so với năm 1999). Trên một số lĩnh vực như nông - lâm nghiệp, công nghiệp, giao thông, điện lực, quản lý đất đai và tín dụng ngân hàng có bước phát triển tốt. Đặc biệt về thu ngân sách, đây là năm đầu tiên kể từ sau khi tỉnh được tái lập, chúng ta đã đạt được mức thu ngân sách cao nhất (212 tỷ đồng). Về cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nâng dần được tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội đã tạo được sự chuyển biến tiến bộ tương đối toàn diện.

Về quốc phòng - an ninh được giữ vững. Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao hơn. Thu nhập GDP bình quân đầu người tăng cao (8,52% so với năm 1999).

Những kết quả đạt được nêu trên, đã khẳng định Nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra nhiệm vụ - mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2000 là sát với tình hình thực tế ở địa phương. Đồng thời HĐND tỉnh cũng nhận thấy rằng: trong năm qua, tỉnh ta có một số mặt thuận lợi cơ bản đó là thời tiết thuận lợi đã tạo điều kiện cho sản xuất nông - lâm nghiệp và kinh tế trang trại tiếp tục phát triển. Đặc biệt được Chính phủ và các Bộ ngành Trung Ương quan tâm hỗ trợ về nhiều mặt, nhất là bổ sung thêm nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản và vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia, nhờ vậy đã giải quyết được một số vấn đề khó khăn bức xúc của tỉnh, về thu ngân sách có thuận lợi hơn do giá mủ cao su tăng cao và tương đối ổn định.

Bên cạnh những thuận lợi trên, chúng ta vẫn còn một số khó khăn, thử thách mới đó là nạn lũ lụt vào đầu tháng 10 diễn ra trên diện rộng với mức độ thiệt hại lớn và nghiêm trọng nhất từ trước đến nay. Một số mặt hàng nông sản bị rớt giá liên tục, thị trường tiêu thụ khó khăn như cà phê, mía và cây ăn trái. Nhiều hộ dân bị thua lỗ và mất vốn. Đáng quan tâm là tình hình dân số tăng cơ học nhanh, gây áp lực lớn cho tỉnh về nhiều mặt. Vấn đề an ninh trật tự xã hội diễn biến phức tạp. Số vụ phạm pháp hình sự, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý kinh tế; các tội phạm về trật tự an toàn xã hội tăng cao và mức độ nghiêm trọng hơn. Tình hình tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Đáng lưu ý là vấn đề tai nạn giao thông trong năm qua tăng khá cao (15,5% so với năm 1999) và mức độ thiệt hại về người và của lớn hơn. Đồng thời với những khó khăn nêu trên thì trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong năm qua cũng còn một số mặt đáng quan tâm đó là : Tốc độ xây dựng cơ bản chậm, phần lớn các công trình xây dựng không đảm bảo hoàn thành theo hợp đồng. Việc giải ngân các nguồn vốn của chương trình mục tiêu quốc gia đạt thấp và nợ đọng lớn, kéo dài. Vốn đầu tư XDCB chưa được giải ngân kịp thời.

Những vấn đề này tồn tại trong nhiều năm qua nhưng chưa được khắc phục có hiệu quả. HĐND tỉnh yêu cầu UBND tỉnh cần tìm ra nguyên nhân và làm rõ trách nhiệm của từng cấp, ngành, từng cá nhân để có biện pháp khắc phục kịp thời và có hiệu quả trong năm 2001.

Việc thực hiện chỉ tiêu xóa đói, giảm nghèo và thực hiện huy động nguồn lực trong dân để đầu tư phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, vấn đề đầu tư và hiệu quả đầu tư của công tác khuyến nông kết quả còn hạn chế.

Đây là những vấn đề cần được tập trung chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

II/ PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 2001:

Năm 2001 là năm mở đầu của thế kỷ XXI, năm có vị trí rất quan trọng, tạo đà cho việc thực hiện kế hoạch 5 năm (2001 - 2005). Năm có những thuận lợi nhưng cũng có nhiều khó khăn, thử thách mới.

· Mục tiêu tổng quát của năm 2001 là:

Đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững, gắn liền với phát triển mạnh về văn hóa - xã hội. Tập trung sức giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội bức xúc như xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, vấn đề phạm pháp hình sự; giải quyết có hiệu quả khiếu nại, tố cáo của công dân; đảm bảo trật tự và kỷ cương pháp luật, giữ vững ổn định chính trị. HĐND tỉnh thống nhất lấy chủ đề của năm 2001 là năm “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

· Các chỉ tiêu chủ yếu :

1- Xác định mức chuyển dịch cơ cấu của Tỉnh năm 2001 như sau: Nông - Lâm nghiệp chiếm 62,2%, công nghiệp chiếm 12,7%, dịch vụ chiếm 25,1% so với tổng GDP của tỉnh.

2- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 9,5 -10%.

3- Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp tăng 6%.

4- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 35%.

5- Giá trị các ngành dịch vụ tăng : 0.2%

6- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng: 35%.

7- Tổng thu ngân sách địa phương 180 tỷ đồng; Tổng chi ngân sách 451 tỷ đồng.

8- Tạo việc làm mới cho 13.000 lao động.

9- Đào tạo nghề cho 1.000 người.

10- Phấn đấu xóa 100% hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% (Theo tiêu chuẩn mới).

11- Giảm tỷ lệ sinh 0,8%0.

· Một số chỉ tiêu cụ thể:

1/ Trồng mới 2.000 ha rừng (1.100 ha rừng kinh tế, 900 ha rừng phòng hộ ).

2/ Tăng 11.000 hộ sử dụng điện đạt tỷ lệ từ 42% - 45%.

3/ Vốn đầu tư XDCB tập trung 116 tỷ 250 triệu đồng trong đó phân cấp cho Huyện, Thị 40 tỷ đồng.

4/ Thực hiện cấp 20.000 giấy CNQSDĐ cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.

5/ Cung cấp nước sạch cho 53% dân số nông thôn (tăng 6,8% so với năm 2000 ).

6/ Đảm bảo 46% trạm y tế xã có bác sĩ, phấn đấu thanh toán bệnh Phong và bệnh Bại liệt vào cuối năm 2001; giảm nguy cơ nhiễm Lao xuống còn 1%. 100% trạm y tế được tiêu chuẩn hóa.

7/ Phấn đấu 80% khu dân cư và 80% công sở đạt tiêu chuẩn văn hóa; trên 60% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 20% khu dân cư được công nhận danh hiệu khu dân cư xuất sắc.

8/ Thực hiện phổ cập Trung học cơ sở ở 10 phường, thị trấn; Nâng số học sinh tiểu học tăng 3,49%; Trung học cơ sở tăng 12,4%; Trung học phổ thông tăng 7,2% so với năm 2000. Chấm dứt lớp học ca 3 trong toàn tỉnh.

9/ Thực hiện giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống 34% vào cuối năm 2001; 95% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được sự quan tâm chăm sóc của xã hội.

III/ CÁC NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH :

A/ Về Kinh tế:

1/ Nông nghiệp:

Tập trung phát triển và thâm canh tăng năng suất, sản lượng các loại cây trồng chủ lực như : cao su, điều, tiêu và cây ăn trái. Quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm và xuất khẩu.

Ưu tiên đầu tư cho việc lai tạo, sản xuất các loại giống cây trồng, vật nuôi, đầu tư công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch. Tăng quy mô và số lượng, chất lượng đàn gia súc, gia cầm với các mô hình tổ chức phù hợp.

2/ Công nghiệp:

Đầu tư cho công nghiệp chế biến mủ cao su chất lượng cao, triển khai nhanh để sớm thực hiện dự án nhà máy chế biến trái cây của tỉnh, mở rộng mạng lưới vệ tinh chế biến đối với mặt hàng hạt điều, tăng năng lực sản xuất vật liệu xây dựng.

3/ Đổi mới Doanh nghiệp, hợp tác xã :

Xem xét lại hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp nhà nước, gắn liền việc tháo gỡ các khó khăn với việc sắp xếp hợp lý đội ngũ cán bộ quản lý các doanh nghiệp Nhà nước. Triển khai thực hiện làm thí điểm cổ phần hóa một vài Doanh nghiệp nhà nước để rút kinh nghiệm, xử lý kịp thời các Doanh nghiệp nhà nước thua lỗ kéo dài.

Tổng kết đánh giá việc thực hiện luật hợp tác xã; giải quyết dứt điểm các khoản nợ cũ của HTX nông nghiệp. Tạo điều kiện đào tạo cán bộ và vốn vay tín dụng cho các HTX hoạt động được thuận lợi, có hiệu quả.

4/ Về đầu tư phát triển:

Tăng cường công tác quản lý việc lập quy hoạch, kế hoạch, chuẩn bị và quyết định đầu tư, khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, kém hiệu quả. Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho Thị xã Đồng Xoài huyện Đồng Phú, cơ sở hạ tầng các xã khó khăn và các công trình đưa vào sử dụng trong năm. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng tâm của tỉnh và trụ sở làm việc của các cơ quan, ban ngành, Mặt trận đoàn thể tỉnh.

5/ Tài chính - tín dụng Ngân hàng :

Tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ thu đối với các nguồn thu huy động đóng góp theo Nghị quyết kỳ họp thứ nhất và thứ hai HĐND tỉnh khóa VI nhằm phát huy nguồn lực trong dân tham gia vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội, phải coi đây là một tiêu chuẩn quan trọng để xem xét đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của Huyện, Thị, xã, phường trong năm 2001.

Tiếp tục khai thác các nguồn thu ngân sách trên địa bàn nhất là nguồn thu về nhà, đất, thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh.

Mở rộng mạng lưới tín dụng, tạo sự thông thoáng về thủ tục, điều kiện cho vay vốn đối với các chủ trang trại và hộ dân cần vốn đầu tư cho sản xuất chăn nuôi, thực hiện xóa đói, giảm nghèo, trên cơ sở đề cao trách nhiệm của cấp chính quyền và Mặt trận đoàn thể, tổ tín chấp ở cơ sở.

B/ Về Giáo dục - Đào tạo, văn hóa - thông tin – thể dục - thể thao :

Tổ chức triển khai thực hiện Luật giáo dục, củng cố nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và chất lượng các cấp học, chất lượng đào tạo của Trường Trung học Sư phạm tỉnh. Mở rộng phong trào và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa thông tin - thể dục - thể thao ở cơ sở. Gắn liền với việc xây dựng phát triển các bộ môn thể thao có thành tích cao của tỉnh. Thực hiện đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng công sở văn hóa, gia đình văn hóa theo tiêu chuẩn quy định. UBND từng cấp giao chỉ tiêu cụ thể cho các cơ quan, đơn vị thực hiện.

C/ Về các vấn đề xã hội:

Thực hiện đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế, quản lý chặt chẽ việc khám, chữa bệnh của các cơ sở y tế công lập và cơ sở hành nghề y tế tư nhân, kiểm tra việc thực hiện chính sách miễn giảm phí cho người nghèo và thu một phần viện phí theo quy định.

Triển khai thực hiện Luật phòng chống ma túy. Thực hiện các biện pháp đồng bộ để phòng chống HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác. Sử dụng hiệu quả vốn đầu tư cho các chương trình xóa đói - giảm nghèo, tạo việc làm, dạy nghề. Thực hiện tốt các chính sách xã hội.

4/ Thực hiện chính sách dân tộc và miền núi:

Tập trung thực hiện có hiệu quả chương trình 133, 135. Trước hết là ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện khai hoang, cày ủi, chú trọng đến công tác khuyến nông, giống cây trồng, vật nuôi, cải tạo vườn tạp. Thực hiện chính sách trợ cước, trợ giá vận chuyển các mặt hàng chính sách gắn liền với nâng cao trình độ dân trí và đời sống tinh thần cho đồng bào trước hết là ưu tiên cho 28 xã nghèo của tỉnh. Củng cố nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường dân tộc nội trú của Tỉnh - của Huyện.

5/ Về phòng chống thiên tai:

Quy hoạch hệ thống thủy lợi vừa và nhỏ, khơi thông kênh rạch để đảm bảo giữ nước trong 6 tháng mùa khô và chống úng, ngập trong mùa mưa lũ. Bổ sung phương tiện và tổ chức lực lượng để sẵn sàng cứu hộ cho dân khi có lũ lụt xảy ra gắn liền với việc di dời chỗ ở cho dân trong vùng thường xuyên xảy ra lũ lụt hàng năm.

6/ Về công tác thực thi pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân :

Chú trọng nâng cao chất lượng trong công tác xét xử của Tòa án nhân dân các cấp. Kiện toàn tổ chức bộ máy cán bộ của Phòng Thi hành án để đảm bảo giải quyết nhanh số án tồn đọng. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan tư pháp cấp trên đối với cấp dưới thực hiện nghiêm luật khiếu nại, tố cáo và quy chế dân chủ ở cơ sở. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp các cấp, người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại – tố cáo của công dân. Củng cố Ban Thanh tra nhân dân và tổ hòa giải ở cơ sở. Tập trung giải quyết dứt điểm các đơn thư khiếu nại – tố cáo tồn đọng kéo dài và vượt cấp. Xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại – tố cáo, không chấp hành quyết định giải quyết của cấp trên. Đồng thời xử nghiêm minh những người lợi dụng quyền dân chủ, quyền khiếu nại – tố cáo để gây mất an ninh trật tự xã hội.

Các vị đại biểu HĐND các cấp trong tỉnh cần nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm của cơ quan và của đại biểu trong việc tiếp dân, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

7/ Về quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội:

Quản lý chắc địa bàn, nắm chắc hộ tịch, hộ khẩu, nêu cao ý thức cảnh giác đối phó kịp thời và có hiệu quả trong mọi tình huống. Có giải pháp kiên quyết và đồng bộ để hạn chế tai nạn giao thông.

Gắn phát triển kinh tế - xã hội với củng cố tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh đảm bảo khả năng sẵn sàng chiến đấu. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng - an ninh với hoạt động đối ngoại; xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh.

IV/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, cải tiến phương pháp triển khai và tổ chức thực hiện. Giảm bớt các cuộc hội họp nếu xét thấy không thật cần thiết ở Tỉnh và Huyện - Thị, tăng cường đi công tác cơ sở để chỉ đạo tháo gỡ kịp thời các khó khăn vướng mắc ở cơ sở. Nâng cao hiệu lực chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương và công tác giám sát để việc thực hiện các chính sách, pháp luật của nhà nước và Nghị quyết của HĐND tỉnh được thực hiện nghiêm.

Đề nghị UBMTTQ tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận động viên mọi tầng lớp nhân dân thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh.

HĐND tỉnh kêu gọi đồng bào các dân tộc và cán bộ, chiến sỹ trong tỉnh hãy phát huy tinh thần đoàn kết, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, huy động thật tốt các nguồn lực để đầu tư cho phát triển, ra sức phấn đấu để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ ngay từ những ngày đầu, của năm 2001.

Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh khóa VI, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 28 tháng 12 năm 2000./.

CHỦ TỊCH HĐND TỈNH (Đã ký)Nguyễn Hữu Luật

Lược đồ văn bản

Văn bản đang xem

Nghị quyết số 180/2000/NQ-HĐ VI Về nhiệm vụ năm 2001

Cơ quan ban hành:
Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Phước
Số hiệu:
180/2000/NQ-HĐ VI
Loại văn bản:
Nghị quyết
Ngày ban hành:
07/07/2000
Người ký:
Nguyễn Hữu Luật
Ngày hiệu lực:
07/07/2000
Tình trạng hiệu lực:
Còn hiệu lực

Tải về & chia sẻ

🌐Xem trên nguồn gốccsdl.lsu.vn

Văn bản liên quan

Tra cứu hơn 37.000 văn bản pháp luật

Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.

Tra cứu văn bản