Chỉ thị số 29 /CT-UB Về việc lập quỹ bảo trợ nhà trường theo Quyết định số 15/CP ngày 14 tháng 01 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ
Thuộc tính văn bản
| Số hiệu | 29 /CT-UB |
|---|---|
| Loại văn bản | Chỉ thị |
| Ngành | |
| Cơ quan ban hành | Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre |
| Người ký | Đoàn Tú — Phó Chủ tịch |
| Ngày ban hành | 16/09/1982 |
| Ngày hiệu lực | 16/09/1982 |
Trích yếu nội dung
Chỉ thị số 29 /CT-UB Về việc lập quỹ bảo trợ nhà trường theo Quyết định số 15/CP ngày 14 tháng 01 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ
Nội dung toàn văn
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 29 /CT-UB | Bến Tre, ngày 16 tháng 9 năm 1982 |
CHỈ THỊ
Về việc lập quỹ bảo trợ nhà trường theo
Quyết định số 15/CP ngày 14 tháng 01 năm 1981
của Hội đồng Chính phủ
I. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA VÀ NGUYÊN TẮC CHUNG:
Quyết định số 15/CP ngày 14 tháng 01 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ quy định việc thành lập quỹ bảo trợ nhà trường (BTNT), Bộ Giáo dục đã ban hành Thông tư số 10/TT ngày 19 tháng 5 năm 1981 hướng dẫn thành lập quỹ BTNT.
Quỹ BTNT được thành lập với 3 mục đích sau đây:
1. Góp phần cùng với ngân sách nhà nước sửa chữa, xây dựng cơ sở vật chất cho các trường mẫu giáo, phổ thông, bổ túc văn hoá, sư phạm, mua sắm thêm đồ dùng dạy học, giấy bút cho giáo viên, sổ sách quản lý nhà trường trong các trường.
2. Góp phần cải thiện đời sống, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho cán bộ, giáo viên ngành giáo dục.
3. Hỗ trợ, khuyến khích dạy giỏi, học giỏi.
Từ sau ngày giải phóng đến nay, sự nghiệp giáo dục của tỉnh nhà đã từng bước được phát triển và đạt được những thành tựu đáng phấn khởi. Bước đường đi lên còn nhiều khó khăn, còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết để nâng cao chất lượng giáo dục. Nhà nước không thể bao cấp hết mọi mặt cho nhà trường. Hội đồng Chính phủ cho lập quỹ BTNT nhằm làm cho toàn Đảng, toàn dân nâng cao trách nhiệm hơn nữa trong việc chăm lo sự nghiệp giáo dục. Qua lập quỹ BTNT mối quan hệ giữa nhà trường với cha mẹ học sinh, nhân dân và xã hội sẽ mật thiết hơn, nhờ đó sẽ có thêm điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo theo nguyên lý giáo dục của Đảng.
Quỹ BTNT không thay thế ngân sách xã chi cho sự nghiệp giáo dục cũng không thay thế cho ngân sách nhà nước cấp chi cho giáo dục, không thay thế nguồn vốn xây dựng trường học theo Quyết định số 24/TTg ngày 23 tháng 11 năm 1973 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 29/TT-LB ngày 31 tháng 12 năm 1974 của liên Bộ Giáo dục – Tài chính.
Quỹ BTNT do Ty Giáo dục và Ban Giáo dục các huyện, thị quản lý và để ngoài ngân sách nhà nước. Nội dung thu, chi quỹ này do nhà nước thống nhất quy định.
Quỹ BTNT được quản lý theo năm học, bắt đầu từ khi khai giảng năm học mới đầu tháng 9 năm trước cho đến hết tháng 8 năm sau.
II. NỘI DUNG THU CHI QUỸ BẢO TRỢ NHÀ TRƯỜNG
A. Về chi:
Nguồn thu chủ yếu là sự đóng góp của cha mẹ học sinh, của nhân dân, của các quỹ phúc lợi xí nghiệp, các hợp tác xã thủ công nghiệp, hợp tác xã công nghiệp, các Đoàn thể ủng hộ. Ngoài ra còn vận động những nhà hảo tâm ủng hộ, nhà trường tổ chức thu nhặt phế liệu, phế phẩm bán thu tiền,…
1. Huy động nhân dân đóng góp:
Tất cả nhân dân có con đi học có nghĩa vụ đóng góp. Mức đóng góp của cha mẹ học sinh cho trường con học theo từng năm học được quy định như sau:
- 40 đồng (bốn mươi) đối với 1 học sinh mẫu giáo, 1 học sinh cấp I phổ thông;
- 60 đồng (sáu mươi) đối với 1 học sinh cấp II phổ thông;
- 80 đồng (tám mươi) đối với 1 học sinh cấp III phổ thông;
Đầu năm học, cha mẹ học sinh có trách nhiệm đóng góp cho quỹ BTNT theo quy định trên trong 1 lần hoặc 2 lần (lần thứ 2 đóng vào đầu học kỳ II).
Học sinh con của liệt sĩ, con thương binh từ loại sáu trở lên, học sinh mồ côi cả cha mẹ được miễn đóng góp vào quỹ BTNT. Học sinh con của cán bộ, công nhân viên, gia đình thuộc diện nghèo đông con (từ 3 trở lên) được xét giảm phân nửa mức đóng góp trên. Việc xét giảm này phải bình nghị công khai, thật dân chủ trong đại hội cha mẹ học sinh có sự tham gia góp ý của các đoàn thể địa phương. Trên cơ sở bình nghị đó, Hội đồng giáo dục và Uỷ ban nhân dân địa phương xét quyết định số học sinh được giảm phân nửa mức đóng góp, nhà trường cần căn cứ vào đó thu quỹ BTNT. Phải hết sức tránh thất thu cho quỹ BTNT và thất học cho học sinh trong việc này. Nói chung mọi học sinh đều có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BTNT.
Hội cha mẹ học sinh, Hội đồng giáo dục nhà trường có thể vận động những nhà hảo tâm, những gia đình không có người đi học đóng góp vào quỹ BTNT vào bất cứ thời gian nào.
2. Huy động sự đóng góp của các quỹ phúc lợi:
Các xí nghiệp sản xuất công nông lâm trường quốc doanh, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, các tập đoàn sản xuất cần trích một phần quỹ phúc lợi xã hội từ 5 đến 10% để đóng góp cho quỹ BTNT. Hàng năm, các đơn vị đưa vấn đề này ra trước đại hội công nhân viên chức, đại hội xã viên biểu quyết mức đóng góp cụ thể.
3. Các nguồn thu khác:
Tiền thu và các hoạt động khác của ngành giáo dục như học sinh thu nhặt giấy vụn, phế liệu phế phẩm đem bán, biễu diễn văn nghệ, chiếu bóng bán vé đều nộp vào quỹ bảo trợ nhà trường. Quỹ lao động nhà trường không nộp vào quỹ bảo trợ (quỹ này được lập và sử dụng theo Chỉ thị số 237/TTG ngày 01 tháng 12 năm 1970 của Thủ tướng Chính phủ.
Nhà trường phổ thông, mẫu giáo, bổ túc văn hoá và đơn vị thu theo hệ thống sổ sách thống nhất (Ty Tài chính và Giáo dục thống nhất hướng dẫn). Ban Giáo dục theo dõi tổng kết toàn bộ số thu, các phòng trực thuộc Ty Giáo dục do Ty theo dõi tổng kết số thu.
B- Về chi
TM.UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH
|
Lược đồ văn bản
Tải về & chia sẻ
Văn bản liên quan
Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật
Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.