📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Chỉ thịCòn hiệu lực

Chỉ thị số 02 /CT-UB về việc phát động phong trào thi đua 3 năm (1998 -2000)

📄 Số hiệu: 02 /CT-UB🏛️ Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre📅 04/02/1998

Thuộc tính văn bản

Số hiệu02 /CT-UB
Loại văn bảnChỉ thị
NgànhNội vụ
Lĩnh vựcThi đua, khen thưởng
Cơ quan ban hànhỦy ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Người kýTrần Văn Cồn — Phó Chủ tịch
Ngày ban hành04/02/1998
Ngày hiệu lực04/02/1998

Trích yếu nội dung

Chỉ thị số 02 /CT-UB về việc phát động phong trào thi đua 3 năm (1998 -2000)

Nội dung toàn văn

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

Số: 02/CT-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bến Tre, ngày 04 tháng 02 năm 1998

CHỈ THỊ

CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

V/v phát động phong trào thi đua 3 năm

(1998 -2000)

Thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TU của Tỉnh uỷ ngày 05 tháng 12 năm 1997 về việc “Tổ chức kỷ niệm những ngày lịch sử lớn năm 2000, phát động phong trào Đồng Khởi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đẩy lùi nghèo nàn lạc và lạc hậu”;

Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ công tác thi đua và khen thưởng trong những năm tới, của Viện Thi đua khen thưởng Nhà nước đề ra tại hội nghị thi đua khen thưởng toàn quốc tháng 9 năm 1997;

Nhằm đẩy mạnh việc triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TU của Tỉnh uỷ Bến Tre, bảo đảm mang lại hiệu quả cao trên các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, lập thành tích thiết thực đón mừng các ngày lễ lớn năm 2000, nhất là kỷ niệm 100 năm ngày thành lập tỉnh Bến Tre.

Nay Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ thị các cấp, các ngành trong tỉnh phát động phong trào thi đua 3 năm 1998-2000 với các mục tiêu, nội dung cụ thể như sau:

I – MỤC TIÊU NHIỆM VỤ CỦA PHONG TRÀO THI ĐUA:

1) Thi đua thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu cơ bản trên từng lĩnh vực kinh tế – xã hội của từng ngành, từng địa phương và toàn tỉnh theo nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ VI đề ra và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh 5 năm (1996-2000) đã được Chính phủ phê duyệt thông qua, tập trung cho phần còn lại của năm 1998-2000.

2) Thi đua thực hiện hoàn thành đạt chất lượng tốt, vượt thời hạn qui định đối với 8 công trình văn hoá, lịch sử của tỉnh gồm:

+ Viết lại hoàn chỉnh quyển lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre.

+ Tu chỉnh, bổ sung quyển Địa chí Bến Tre.

+ In tập sách 100 năm xây dựng và phát triển tỉnh Bến Tre.

+ Xây dựng bộ phim tài liệu lịch sử Bến Tre.

+ Quy hoạch xây dựng từng hạng mục làng Đồng Khởi ở Định Thuỷ.

+ Tổ chức tổng kết về phong trào Đồng Khởi tại Bến Tre.

+ Xây dựng và nâng cấp khu mộ di tích lịch sử Nguyễn Đình Chiểu.

+ Xây dựng nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Thị Định.

Đồng thời mỗi ngành, địa phương và từng đơn vị cơ sở chọn một vài công trình, dự án trọng điểm để tập trung thực hiện và hoàn thành xuất sắc, nhằm lập thành tích dâng quà kỷ niệm 100 năm ngày thành lập tỉnh Bến Tre (1900-2000).

3) Tạo ra phong trào Đồng Khởi mới trong thi đua nhằm thúc đẩy nhanh chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhất là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Tạo một bước chuyển biến mới về cơ sở hạ tầng, ổn định và nâng cao đời sống về mọi mặt. Đồng thời với việc đẩy lùi nghèo nàn lạc và hậu trên từng địa bàn huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh chú trọng nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ.

4) Tạo ra nhiều đơn vị điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt, nhiều chiến sĩ thi đua, tập thể lao động giỏi trong từng ngành nghề, từng địa bàn, trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, con người văn hoá. Đi đôi với đấu tranh đẩy lùi các mặt tiêu cực và tệ nạn xã hội đang phổ biến hiện nay như: tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, tệ nạn quan liêu, cửa quyền, ức hiếp nhân dân, tệ nạn mại dâm, ma tuý, vi phạm pháp luật hình sự, thoái hoá đạo đức trong đời sống xã hội…

II – NỘI DUNG CỤ THỂ CỦA CÁC PHONG TRÀO THI ĐUA TỪ NAY ĐẾN NĂM 2000:

1) Phát động phong trào thi đua học tập và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam nói chung và của quê hương Bến Tre Đồng Khởi nói riêng, thông qua giáo dục sâu sắc ý nghĩa lịch sử của các ngày lễ lớn đã ghi trong Nghị quyết 07/NQ-TU hàng năm và nhất là năm 2000.

Tổ chức học tập, sinh hoạt theo chủ đề các ngày lễ với nhiều hình thức phong phú:

- 100 năm ngày thành lập tỉnh Bến Tre (1900-2000).

- 40 năm ngày Bến Tre Đồng Khởi (17/01/1960-17/01/2000).

- 70 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/02/1930-3/02/2000).

- 25 năm ngày thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (30/4/1975-30/4/2000).

- 110 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2000).

- 55 ngày Cách mạng tháng tám và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2000).

Thông qua các tổ chức cơ quan Nhà nước, các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, trường học mà giáo dục rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, chú trọng đối tượng đoàn viên, hội viên, thanh thiếu niên học sinh.

2) Đẩy mạnh phong trào thi đua phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế, ổn định và nâng cao một bước đời sống nhân dân trong tỉnh, thi đua thực hiện đạt và vượt các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế xã hội, các hạng mục công trình xây dựng cơ bản của tỉnh, của ngành và địa phương đã đề ra năm 2000, nhất là phần còn lại của 3 năm 1998-2000, chú trọng các chỉ tiêu trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương mại dịch vụ, nhằm triển khai nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở từng ngành, từng địa bàn và toàn tỉnh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế tỉnh nhà.

Thực hiện hoàn tất, có chất lượng cao, vượt thời gian đối với các công trình văn hoá, lịch sử của Tỉnh uỷ đề ra trong Nghị quyết 07/NQ-TU. Đồng thời mỗi ngành tỉnh, mỗi huyện, thị xã và mỗi đơn vị cơ sở cho một vài công trình, dự án phát triển kinh tế văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng là trọng điểm có ý nghĩa thiết thực cho ngành, cho địa phương để tập trung thi đua vượt lập thành tích kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2000.

3) Khởi động phong trào thi đua Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng chăm lo xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc phát triển kinh tế và nâng cao đời sống ở từng địa phương, chú trọng nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ.

Tập trung huy động các nguồn vốn để triển khai xây dựng các công trình trường học, trạm y tế, cầu nông thôn theo hướng kiên cố, bán kiên cố, kéo điện trung thế, hạ thế về xã đạt 100%, trải sỏi đỏ đường liên xã, liên ấp, phấn đấu xoá cầu khỉ, xoá tình trạng học 3 ca vào cuối năm 2000.

4) Triển khai mạnh việc đầu tư mới công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật theo hướng hiện đại, cải tiến, thay đổi những cái lạc hậu, cũ kỹ nhằm phục vụ phát triển sản xuất, tăng cao năng suất, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, phát huy rộng rãi phong trào sáng kiến của quần chúng lao động trong mọi ngành nghề nhằm mở rộng khâu chế biến hàng nông sản của địa phương, tích cực tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định hàng hoá và xuất khẩu góp phần phát triển sản xuất.

5) Thúc đẩy phong trào toàn dân tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục:

Tiếp tục phát động phong trào thi đua dạy tốt học tốt trong các trường học, khắc phục dần tình trạng phụ đạo, dạy ngoại khoá nhiều hơn và đi trước dạy chính khoá.

Duy trì phong trào thi đua chống tái mù chữ và nâng cao việc phổ cập giáo dục tiểu học tiến dần lên lớp 6, lớp 7 ở những nơi có điều kiện.

6) Phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới, nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, con người văn hoá lành mạnh, mang bản sắc dân tộc, chống lối sống sa đọa, đồi trụy. Khắc phục dần tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức con người trong đời sống xã hội, giao tiếp hàng ngày. Tăng cường các hoạt động sinh hoạt văn hóa văn nghệ, thể thao trong nhân dân, nhất là vào các dịp các ngày lễ lớn hàng năm, chú trọng đưa sinh hoạt văn hoá hướng về cơ sở đến phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến cũ. Đồng thời tích cực bài trừ các tệ nạn xã hội như mãi dâm, ma tuý, truyền bá văn hoá đồi trụy trong nhân dân.

7) Tiếp tục triển khai thực hiện sâu rộng việc xoá hộ đói, giảm hộ nghèo, tăng hộ giàu theo Chỉ thị 23-CT/TW ngày 29 tháng 11 năm 1997 của Ban Chấp hành trung ương Đảng.

Huy động các nguồn lực trong tỉnh, ngoài tỉnh và vận động trong toàn xã hội tạo ra phong trào hỗ trợ vốn cho các hộ đói nghèo, phát triển kinh tế hộ gia đình tạo điều kiện giúp họ ổn định và từng bước nâng cao đời sống bằng lao động chân chính.

Phát huy hiệu quả các hình thức cho vay vốn xoá đói giảm nghèo của Ngân hàng Phục vụ người nghèo và các đoàn thể chính trị, xã hội theo các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và các hình thức đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau phát triển kinh tế gia đình ở nông thôn, xóm ấp.

Chú trọng thu hút lao động tại địa phương vào các tổ chức kinh tế sản xuất mới thành lập và mở rộng để góp phần giải quyết công việc làm cho người thất nghiệp nhằm giúp họ ổn định việc làm và đời sống.

8) Thúc đẩy phong trào thi đua sinh đẻ có kế hoạch đến từng hộ gia đình, thực hiện tốt chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình của quốc gia. Phát động phong trào toàn dân chăm lo giữ gìn sức khoẻ, phát triển mạnh các chương trình y tế cộng đồng, tổ chức tốt việc chăm sóc, phòng ngừa và điều trị bệnh cho nhân dân, thông qua việc củng cố, kiện toàn quản lý nâng cao chất lượng các cơ sở khám và điều trị bệnh của Nhà nước và trong nhân dân. Đẩy mạnh phong trào thi đua “lương y như từ mẫu”.

9) Tăng cường đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng trong các lực lượng vũ trang nhân dân tại địa phương (Công an, quân đội, biên phòng) và các phong trào thi đua xây dựng nền quân sự địa phương, phong trào thi đua toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; Phát động phong trào toàn dân thi đua chống tiêu cực và tệ nạn xã hội: lãng phí, tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, mại dâm, ma tuý, các tệ quan liêu, cửa quyền, ức hiếp nhân dân. Đi sâu vào từng địa bàn dân cư bảo đảm phát triển ổn định và lành mạnh hoá đời sống xã hội, bảo đảm mọi người dân an tâm ổn định và chú tâm chăm lo làm ăn phát triển sản xuất, kinh tế, thực hành tiết kiệm trên từng hộ gia đình .

10) Tiếp tục khơi dậy phong trào toàn dân thi đua thực hiện “Đền ơn đáp nghĩa” đối với các gia đình chính sách, nhất là các bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình liệt sĩ, thương binh nặng, người có công với nước đang gặp khó khăn về đời sống hàng ngày. Chú trọng phát động phong trào trong các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các hộ nhân dân có thu nhập cao…

III - BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1) Từ nay đến năm 2000 các ngành, các địa phương tổ chức phát động thi đua chia làm 6 đợt, mỗi đợt 6 tháng; Nhiệm vụ, chỉ tiêu thi đua cho từng ngành, từng địa phương thì dựa vào kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội đã phân bổ xong cho 5 năm (1996-2000) và các chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng năm 1998-1999, các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết 07/NQ-TU của Tỉnh uỷ cần bổ sung, điều chỉnh nếu có.

2) Mỗi ngành, mỗi địa phương huyện, thị xã, xã, thị trấn, phường cần chọn một vài công trình, dự án lớn có ý nghĩa thiết thực cho ngành, cho địa phương mình đưa vào mục tiêu trọng điểm tập trung thi đua từ nay đến năm 2000, để phát động thực hiện hoàn thành xuất sắc công trình, dự án lập thành tích kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2000, nhất là kỷ niệm 100 ngày thành lập tỉnh Bến Tre.

3) Hằng năm tỉnh có sơ kết phong trào thi đua và bình xét khen thưởng thành tích tập thể, cá nhân tiêu biểu của từng ngành, từng địa phương để động viên phát huy cổ vũ cho phong trào thi đua kịp thời cho năm sau. Riêng cuối năm 1998 tỉnh sẽ mở hội nghị thi đua toàn tỉnh 3 năm (1996-1998) và cuối năm 2000 tỉnh mở đại hội tổng kết phong trào thi đua 5 năm (1996-2000) theo kế hoạch, chương trình Chính phủ đề ra cho cấp tỉnh từ trước đến nay 5 năm 2 lần tổ chức hội nghị thi đua.

4) Cấp huyện, thị xã, ngành tỉnh và các đơn vị cơ sở cứ mỗi lần 6 tháng tổ chức sơ kết phong trào thi đua của ngành của địa phương và bình chọn khen thưởng kịp thời theo quyền hạn đã được phân cấp. Hằng năm tổng kết phong trào thi đua của ngành, địa phương và mở hội nghị tổng kết để đánh giá rút kinh nghiệm chỉ đạo cho năm sau. Đồng thời bình chọn đề nghị về tỉnh và Chính phủ khen thưởng các tập thể, đơn vị, cá nhân tiêu biểu xuất sắc của phong trào. Chú trọng khen thưởng rộng ra đến các thành phần kinh tế (ngoài quốc doanh) có thành tích hưởng ứng phong trào thi đua phát triển sản xuất, có đóng góp nhiều cho ngân sách (thuế), chấp hành tốt luật pháp Nhà nước.

5) Chỉ thị này phải được triển khai rộng rãi đến tận cơ sở, xã, phường, thị trấn, cơ quan, xí nghiệp, phòng ban, trạm, trại, trường học các ấp, khóm, ô…và các đoàn thể chính trị, các hội quần chúng, hội nghề nghiệp ở cơ sở trước ngày 15-02-1998 và được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh, để nhân dân tiếp nhận và tham gia hưởng ứng phong trào thi đua được mạnh mẽ, đều khắp, thường xuyên, liên tục./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Trần Văn Cồn

Lược đồ văn bản

ℹ️ Lược đồ thể hiện mối quan hệ của văn bản này với các văn bản khác (hướng dẫn, sửa đổi, thay thế, căn cứ...). Dữ liệu quan hệ của văn bản này đang được cập nhật.

Tải về & chia sẻ

📘Tải file gốc (.doc)CT.02.1998.doc · 50 KB
Chia sẻ:

Văn bản liên quan

Tra cứu hơn 180.000 văn bản pháp luật

Cập nhật tình trạng hiệu lực mới nhất, tải file gốc miễn phí.

Tra cứu văn bản