Qua điểm của VKSTC về viêc Hướng dẫn, giải đáp vướng mắc trong quá trình áp dụng Điều 201 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Dựa trên nội dung phúc đáp Công văn số 362/CV-VKSPT ngày 19/8/2020 của VKSND tỉnh Phú Thọ về việc hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ trình năm 2017), Vụ 14 Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao đã đưa ra các quan điểm pháp lý thống nhất sau khi trao đổi ý kiến với các đơn vị chuyên trách. Nội dung dưới đây tổng hợp các hướng dẫn trọng tâm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Theo quy định tại Điều 201 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự mà thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, sẽ bị xử lý hình sự với khung hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Nếu phạm tội mà thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, người phạm tội sẽ đối mặt với khung hình phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Để xác định trách nhiệm hình sự, cần làm rõ khái niệm "thu lợi bất chính" dựa trên các nguyên tắc sau:
Trong trường hợp một cá nhân thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng với tổng số tiền thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng trở lên, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc áp dụng khung hình phạt tương ứng, người phạm tội còn có thể bị áp dụng tình tiết tăng nặng là "phạm tội 2 lần trở lên" theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Việc xử lý các dòng tiền phát sinh từ hành vi phạm tội được phân loại như sau:
Khoản lãi vượt quá mức trần pháp luật cho phép được coi là tài sản thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội và phải được trả lại cho người vay. Cụ thể:
Trong trường hợp người cho vay thực hiện việc chốt số tiền lãi của giai đoạn trước (giai đoạn có lãi suất cao vượt mức quy định) vào nợ gốc để tiếp tục cho vay ở giai đoạn sau với lãi suất thấp hơn nhằm che giấu hành vi phạm tội, cơ quan điều tra cần xem xét kỹ lưỡng.
Nếu xác định được việc lập hợp đồng mới thực chất là phương thức che giấu khoản thu lợi bất chính từ giai đoạn trước, thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về hành vi cho vay lãi suất gấp 05 lần trở lên tại thời điểm và khoảng thời gian phát sinh lãi suất cao (giai đoạn 1), nếu đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 201 BLHS.
Việc nắm vững các quy định này giúp đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật hình sự và dân sự, tránh sai sót trong quá trình xét xử các vụ án liên quan đến tín dụng đen. Để hiểu rõ hơn về các thủ tục pháp lý khác như Điều kiện xuất cảnh tại Việt Nam hoặc các vấn đề về Điều kiện cấp giấy chứng nhận đầu tư, người dân và doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn thi hành.