Việc áp dụng các án lệ của tòa án nhân dân tối cao được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP...
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 199/QĐ-CA về việc công bố 11 án lệ. Các án lệ này chính thức được áp dụng vào quá trình xét xử kể từ ngày 03/12/2018. Việc áp dụng án lệ tại Việt Nam được thực hiện theo các quy định hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 07/2018/HS-GĐT ngày 20/3/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tình huống pháp lý: Trong vụ án có đồng phạm, do mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, các đối tượng đã rủ nhau đánh dằn mặt bị hại. Khi thực hiện hành vi, người trực tiếp thực hành dùng mã tấu chém vào các vùng trọng yếu (đầu, mặt, tay, chân) của bị hại; việc bị hại không tử vong là ngoài ý muốn chủ quan. Người xúi giục không có mặt tại hiện trường lúc tội phạm xảy ra và không biết việc sử dụng hung khí nguy hiểm nhưng đã để mặc cho hậu quả xảy ra.
Giải pháp pháp lý: Đối với người thực hành, phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Có tính chất côn đồ”. Đối với người xúi giục, bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” nhưng không áp dụng tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ”.
Nguồn án lệ: Bản án phúc thẩm số 331/2018/HS-PT ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Tình huống pháp lý: Bị cáo không chấp hành yêu cầu dừng xe của Cảnh sát giao thông, điều khiển phương tiện đâm trực tiếp vào lực lượng chức năng. Khi cán bộ cảnh sát bám vào gương chiếu hậu, bị cáo tiếp tục tăng tốc và đánh lái nhằm hất cán bộ xuống đường, dẫn đến việc cán bộ bị đa chấn thương do va chạm với dải phân cách.
Giải pháp pháp lý: Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Giết người đang thi hành công vụ”.
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 09/2015/HS-GĐT ngày 23/4/2015 của Tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao.
Tình huống pháp lý: Bị cáo lợi dụng sơ hở trong quản lý ngân hàng để thực hiện các thủ tục rút và chi tiền tiết kiệm khống từ quỹ do mình quản lý nhằm mục đích chiếm đoạt. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khắc phục được một phần số tiền đã chiếm đoạt.
Giải pháp pháp lý: Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tham ô tài sản”. Giá trị tài sản chiếm đoạt được xác định là toàn bộ số tiền bị cáo đã thực hiện thủ tục rút và chi khống (bao gồm cả phần số tiền đã khắc phục trong quá trình điều tra). Điều này tương tự như cách xác định thiệt hại trong các vụ việc tranh chấp tài sản khi không có văn bản pháp lý rõ ràng.
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/LĐ-GĐT ngày 09/8/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tình huống pháp lý: Người lao động làm việc theo thư mời có xác định loại hợp đồng và thời gian thử việc. Sau khi hết thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc nhưng giữa hai bên không có thêm thỏa thuận mới nào khác.
Giải pháp pháp lý: Phải xác định quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động đã được xác lập là quan hệ hợp đồng lao động chính thức.
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 08/2016/KDTM-GĐT ngày 20/5/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tình huống pháp lý: Hợp đồng thuê tài sản có thời hạn nhưng không thỏa thuận điều kiện chấm dứt. Bên thuê đơn phương chấm dứt hợp đồng trước hạn mà không được bên cho thuê đồng ý, thông báo quá ngắn khiến bên cho thuê không kịp tìm kiếm đối tác thay thế.
Giải pháp pháp lý: Xác định bên thuê có lỗi và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Thiệt hại thực tế được xác định là khoản tiền thuê tài sản tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng.
Nguồn án lệ: Bản án dân sự phúc thẩm số 313/2016/DS-PT ngày 16/3/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tình huống pháp lý: Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, các điều khoản về yêu cầu kê khai tình trạng bệnh lý không rõ ràng. Thông tin được yêu cầu kê khai không phải là yếu tố quyết định việc các bên xác lập hợp đồng.
Giải pháp pháp lý: Xác định người mua bảo hiểm không vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi ký kết hợp đồng và đơn yêu cầu bảo hiểm.
Nguồn án lệ: Bản án dân sự phúc thẩm số 538/2009/DS-PT ngày 31/3/2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tình huống pháp lý: Người mua bảo hiểm lựa chọn hình thức đóng phí tại địa chỉ nhà. Tuy nhiên, đến thời hạn đóng phí và cả trong thời gian gia hạn, nhân viên doanh nghiệp bảo hiểm không thực hiện việc thu phí như thỏa thuận.
Giải pháp pháp lý: Xác định người mua bảo hiểm không có lỗi trong việc chậm đóng phí. Hợp đồng bảo hiểm không bị mất hiệu lực do lý do bên mua không đóng phí đúng hạn theo thỏa thuận ban đầu.
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 27/2015/DS-GĐT ngày 16/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tình huống pháp lý: Tài sản là nhà đất thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Sau khi một người chết, các thừa kế đã thống nhất phân chia và thực hiện việc điều chỉnh trên sổ sách địa chính. Sau khi người còn lại qua đời mới phát sinh tranh chấp về di sản.
Giải pháp pháp lý: Xác định nhà đất đó đã trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của các cá nhân được chia. Những người này chỉ có quyền khởi kiện đòi lại tài sản nếu bị chiếm hữu bất hợp pháp, chứ không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần tài sản này.
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 79/2012/DS-GĐT ngày 23/02/2012 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Tình huống pháp lý: Hợp đồng đặt cọc nhằm bảo đảm việc giao kết hợp đồng mua bán nhà ở có thỏa thuận về thời hạn hoàn tất các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu...