Ngày 14/10/2021, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 17/2021/TT-BTNMT quy định về giám sát khai thác, sử<0xC2> dụng tài nguyên nước. Đây là văn bản quan trọng nhằm thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác nguồn nước, góp phần ngăn ngừa các nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường và bảo vệ an ninh nguồn nước quốc gia.
Đối tượng giám sát và phạm vi áp dụng
Theo quy định tại Điều 1 của Thông tư 17/2021/TT-BTNMT, việc giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân (gọi chung là cơ sở) có công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước (ngoại trừ trường hợp khai thác, sử dụng nước biển). Các trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh bao gồm:
- Công trình hồ chứa khai thác nước mặt để phát điện: Có công suất lắp máy trên 50 kW, bao gồm cả các hồ chứa thủy lợi kết hợp với mục đích phát điện.
- Công trình hồ chứa khai thác nước mặt theo quy mô: Trên 0,1 m3/giây đối với mục đích cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; và trên 100 m3/ngày đêm đối với các mục đích sử dụng khác.
- Các công trình khai thác nước mặt khác: Bao gồm cống, trạm bơm và các công trình tương tự có quy mô trên 0,1 m3/gián đối với nông nghiệp, thủy sản; hoặc trên 100 m3/ngày đêm đối với mục đích khác.
- Công trình khai thác nước dưới đất: Có quy mô khai thác trên 10 m3/ngày đêm. Việc kiểm soát này đặc biệt quan trọng trong việc vấn đề bảo vệ môi trường nước dưới đất theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
Về đối tượng áp dụng, Thông tư này bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước (trừ phạm vi khai thác, sử dụng nước biển).
Nguyên tắc thực hiện giám sát
Để đảm bảo tính hiệu quả trong quản lý tài nguyên, Điều 3 Thông tư 17/2021/TT-BTNMT quy định các nguyên tắc cốt lõi sau:
- Tính chính xác và khách quan: Đảm bảo dữ liệu về khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải trung thực, chính xác, tạo thuận lợi cho việc tra cứu và sử dụng thông tin.
- Tính hệ thống và liên tục: Việc giám sát phải đảm bảo tính kịp thời, đầy đủ và xuyên suốt nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác, tránh tình trạng thất thoát hoặc lạm dụng nguồn nước dẫn đến hậu quả của ô nhiễm môi trường nước.
- Tính thống nhất: Đảm bảo sự đồng bộ về dữ liệu không gian và thời gian giữa các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương và trên từng lưu vực sông cụ thể.
- Sự tương thích với hoạt động quan trắc: Yêu cầu giám sát phải thống nhất với hoạt động quan trắc của cơ sở đã được cấp phép. Các thông số giám sát có thể được đo đạc trực tiếp hoặc tính toán gián tiếp nhưng phải đảm bảo độ tin cậy cao.
Các hình thức giám sát tài nguyên nước
Theo Điều 4, hoạt động giám sát là việc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền kiểm soát thông qua theo dõi số liệu quan trắc từ các cơ sở. Có ba hình thức giám sát chính được quy định:
- Giám sát tự động, trực tuyến: Sử dụng hệ thống đo đạc, quan trắc tự động, liên tục và truyền dữ liệu trực tiếp về hệ thống quản lý tập trung.
- Giám sát định kỳ: Thực hiện thông qua việc cập nhật các số liệu đo đạc, quan trắc theo các khoảng thời gian quy định vào hệ thống giám sát.
- Giám sát bằng camera: Sử dụng hình ảnh từ camera được kết nối và truyền trực tiếp, liên tục về hệ thống để kiểm soát thực tế tại công trình.
Cấu trúc hệ thống giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước
Hệ thống giám sát là một cấu trúc thống nhất, đảm bảo sự kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở khai thác với cơ quan quản lý nhà nước. Hệ thống bao gồm các thành phần chính:
- Hạ tầng kỹ thuật: Bao gồm hệ thống mạng, máy chủ và phần mềm quản lý giấy phép, giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước tại cả cấp trung ương và địa phương.
- Cơ sở dữ liệu giám sát: Tập hợp thông tin về giấy phép tài nguyên nước dùng chung; các số liệu đo đạc, quan trắc từ các công trình và các dữ liệu liên quan khác phục vụ mục đích quản lý.
- Thiết bị đầu cuối: Các thiết bị đo đạc, kết nối và truyền tải dữ liệu trực tiếp từ cơ sở khai thác về cơ sở dữ liệu giám sát thông qua hạ tầng mạng và phần mềm chuyên dụng.
Trách nhiệm đầu tư xây dựng hệ thống được phân định rõ: Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm xây dựng hệ thống ở cấp trung ương; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng hệ thống giám sát tại địa phương.
Cần lưu ý rằng, dữ liệu thu thập từ hệ thống giám sát này là căn cứ pháp lý quan trọng để thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến việc tuân thủ giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước cũng như các quy định pháp luật liên quan.