Thời gian nộp bảo hiểm thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng...
Thời gian nộp bảo hiểm thất nghiệp là mốc quan trọng quyết định người lao động có được giải quyết trợ cấp thất nghiệp sau khi nghỉ việc hay không. Bài viết dưới đây trình bày theo bối cảnh pháp luật tại thời điểm đăng năm 2020, căn cứ chính gồm Luật Việc làm số 38/2013/QH13, Luật Bảo hiểm xã hội 2006 và một số văn bản hướng dẫn liên quan.
Khoản 1 Điều 46 Luật Việc làm 2013 quy định người lao động phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Hồ sơ được nộp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.
Nếu quá thời hạn 03 tháng mà người lao động chưa nộp hồ sơ, hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần chấm dứt hợp đồng đó thường không còn đủ điều kiện về thời hạn nộp. Đây là điểm cần phân biệt với thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp: thời gian đóng chưa được dùng để hưởng trợ cấp vẫn cần được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận để tính cho lần sau nếu đủ điều kiện.
Theo Điều 43 Luật Việc làm 2013, người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, xác định thời hạn, hoặc hợp đồng theo mùa vụ/theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
Người đang hưởng lương hưu hoặc người giúp việc gia đình không thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định này.
Theo Điều 49 Luật Việc làm 2013, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện:
Nội dung thủ tục chi tiết có thể xem thêm tại bài thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành.
Điều 50 Luật Việc làm 2013 quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Mức này không vượt quá 05 lần mức lương cơ sở hoặc 05 lần mức lương tối thiểu vùng, tùy chế độ tiền lương áp dụng với người lao động.
Thời gian hưởng được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp: đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng được hưởng 03 tháng trợ cấp; sau đó cứ đóng đủ thêm 12 tháng được hưởng thêm 01 tháng, tối đa không quá 12 tháng.
Theo Điều 45 Luật Việc làm 2013, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng là thời gian đã đóng mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp. Sau khi đã hưởng, thời gian đóng tương ứng không được tính lại cho lần hưởng tiếp theo, trừ các trường hợp được bảo lưu theo Điều 53.
Với tình huống người lao động là giáo viên làm việc từ tháng 8/2007 và xin thôi việc từ ngày 01/01/2011, cần tách hai nhóm quyền lợi: trợ cấp thôi việc do người sử dụng lao động chi trả và trợ cấp thất nghiệp do cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết nếu đủ điều kiện.
Theo bối cảnh pháp luật thời điểm năm 2011, Điều 14 Nghị định 44/2003/NĐ-CP hướng dẫn về trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động. Khoản 5 Điều 14 quy định thời gian làm việc có tháng lẻ đối với người lao động làm việc trên 12 tháng được làm tròn: từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng tính bằng 06 tháng; từ đủ 06 tháng đến 12 tháng tính bằng 01 năm.
Đối với thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01/01/2009, quy định chuyển tiếp của pháp luật bảo hiểm xã hội thời điểm đó xác định thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không dùng để tính trợ cấp thôi việc. Vì vậy, nếu đơn vị đã đóng bảo hiểm thất nghiệp cho giáo viên từ 01/01/2009 đến 01/01/2011, phần thời gian này không phải là thời gian tính trợ cấp thôi việc; còn thời gian trước khi đóng bảo hiểm thất nghiệp vẫn được xem xét tính trợ cấp thôi việc nếu đủ điều kiện.
Trường hợp đơn vị không tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động trong giai đoạn phải đóng, người lao động có cơ sở yêu cầu xem xét trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo thời gian làm việc thực tế và quy định có hiệu lực tại thời điểm chấm dứt hợp đồng.