Nhờ luật sư tư vấn: Nếu em nghỉ ngang có được hưởng bảo hiểm thất nghiệp không? Và quy trình nhận ra sao? Em xin chân thành cảm ơn!

Nghỉ ngang hưởng bảo hiểm thất nghiệp là trường hợp người lao động tự ý nghỉ việc hoặc không bảo đảm căn cứ, thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng. Với bài viết đăng năm 2020, nội dung dưới đây giữ theo bối cảnh pháp luật tại thời điểm đó: Bộ luật Lao động 2012, Luật Việc làm 2013 và Nghị định 28/2015/NĐ-CP.
Câu trả lời cốt lõi là: nếu việc nghỉ ngang bị xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người lao động không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. Điều này xuất phát từ khoản 1 Điều 49 Luật Việc làm 2013: người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, nhưng loại trừ trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
Vì vậy, người làm gần 7 năm nhưng tự nghỉ khi công ty chưa đồng ý, hoặc đã viết đơn báo trước 30 ngày nhưng mới làm 1 tuần đã nghỉ luôn, cần đối chiếu lại hợp đồng, lý do nghỉ và thời hạn báo trước. Nếu không đáp ứng điều kiện của Bộ luật Lao động 2012 thì khả năng cao không được giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho lần nghỉ việc đó.
Tại thời điểm bài viết đăng, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động được quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động 2012. Người lao động làm theo hợp đồng xác định thời hạn hoặc hợp đồng mùa vụ chỉ được đơn phương chấm dứt trước hạn trong các trường hợp luật định, chẳng hạn không được bố trí đúng công việc, không được trả lương đầy đủ, bị ngược đãi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, được bầu hoặc bổ nhiệm làm nhiệm vụ chuyên trách, lao động nữ mang thai phải nghỉ theo chỉ định, hoặc ốm đau/tai nạn kéo dài mà chưa hồi phục.
Khoản 2 Điều 37 Bộ luật Lao động 2012 cũng yêu cầu thời hạn báo trước tương ứng: thường là ít nhất 3 ngày làm việc với một số lý do đặc biệt, hoặc ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng xác định thời hạn. Nếu nghỉ không đúng căn cứ hoặc không báo trước đúng hạn, việc nghỉ việc có thể bị coi là trái pháp luật.
Theo Điều 49 Luật Việc làm 2013, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện chính sau:
Nếu cần đối chiếu thêm quy trình chung, có thể xem bài thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp và bài đăng ký bảo hiểm xã hội lần đầu.
Theo Nghị định 28/2015/NĐ-CP, người lao động nộp hồ sơ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng. Hồ sơ cơ bản gồm đơn đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giấy tờ xác nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc và sổ bảo hiểm xã hội.
Trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận, giải quyết và trả quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp theo thời hạn luật định. Sau khi có quyết định, cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả tháng đầu tiên; hằng tháng người lao động phải thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm theo quy định.
Lưu ý về bối cảnh: sau thời điểm bài này đăng, Chính phủ ban hành Nghị định 61/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020, có hiệu lực từ 15/7/2020, sửa đổi một số nội dung của Nghị định 28/2015/NĐ-CP, trong đó bổ sung thêm giấy tờ xác nhận chấm dứt hợp đồng tại khoản 2 Điều 16.
Nếu người lao động không được hưởng trợ cấp thất nghiệp do nghỉ ngang trái pháp luật thì thời gian đã đóng nhưng chưa hưởng không tự mất đi. Theo nguyên tắc của Luật Việc làm 2013 và Nghị định 28/2015/NĐ-CP, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được cộng dồn để xét cho lần hưởng sau, trừ phần thời gian đã được dùng để hưởng trợ cấp.
Nói cách khác, nếu lần này không đủ điều kiện hưởng, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó vẫn có thể được bảo lưu để tính khi người lao động đi làm ở nơi khác, tiếp tục tham gia và chấm dứt hợp đồng đúng quy định.
Trong bối cảnh pháp luật năm 2020, nghỉ ngang hưởng bảo hiểm thất nghiệp chỉ có thể được xem xét nếu việc chấm dứt hợp đồng không bị coi là trái pháp luật và người lao động đáp ứng đầy đủ Điều 49 Luật Việc làm 2013. Nếu tự ý nghỉ không đúng căn cứ hoặc không báo trước đúng hạn, người lao động thường không được nhận trợ cấp thất nghiệp cho lần nghỉ đó, nhưng thời gian đóng chưa hưởng có thể được bảo lưu.