Cuối năm 2016 chị M theo chị H lên cửa khẩu Móng Cái – Quảng Ninh buôn bán và bị chị H lừa đưa sang Trung Quốc bán làm nô lệ tình dục cho hai cha con người Trung Quốc. Đầu tháng 6 vừa qua, lợi...
Cuối năm 2016 chị M theo chị H lên cửa khẩu Móng Cái – Quảng Ninh buôn bán và bị chị H lừa đưa sang Trung Quốc bán làm nô lệ tình dục cho hai cha con người Trung Quốc. Đầu tháng 6 vừa qua, lợi dụng sự sơ hở của hai cha con người Trung Quốc, chị M đã tự trốn thoát trở về Việt Nam. Nhiều ngày nay, chị M phải sống trong tâm trạng lo lắng, sợ hãi bị bọn buôn bán người bắt trở lại Trung Quốc. Hiện chị không có giấy tờ, tài sản gì. Chị M mong được giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ quan có thẩm quyền để có thể trở về địa phương ổn định cuộc sống. Đề nghị cho biết thủ tục tiếp nhận, hỗ trợ chị M được quy định như thế nào? H sẽ bị xử lý về tội gì?
Trả lời:
Thứ nhất, về thủ tục tiếp nhận, hỗ trợ chị M: Căn cứ Điều 24 và khoản 3 của điều 26 Luật phòng, chống mua bán người, thì việc tiếp nhận, hỗ trợ cho chị M được pháp luật quy định như sau:
- Nạn nhân hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi gần nhất khai báo về việc bị mua bán. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận khai báo có trách nhiệm chuyển ngay người đó đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo ngay với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp nhận nạn nhân thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân.
- Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được thông báo của Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện việc tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân và phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp xác định thông tin ban đầu về nạn nhân trong trường hợp họ chưa có một trong các giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều 28 của Luật phòng, chống mua bán người.
- Sau khi tiếp nhận, căn cứ vào giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều 28 của Luật Luật phòng, chống mua bán người. hoặc kết quả xác định thông tin ban đầu về nạn nhân, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội xem xét để thực hiện việc hỗ trợ chi phí đi lại trong trường hợp nạn nhân tự trở về nơi cư trú; đối với nạn nhân là trẻ em thì thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân thích cư trú; trường hợp nạn nhân cần được chăm sóc về sức khỏe, tâm lý và có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân, nạn nhân là trẻ em không nơi nương tựa thì làm thủ tục chuyển giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Đối với người chưa có giấy tờ, tài liệu chứng nhận là nạn nhân thì Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị cơ quan Công an cùng cấp tiến hành việc xác minh.
- Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan Công an cùng cấp có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản cho Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp có đủ điều kiện xác định là nạn nhân thì cơ quan đã tiến hành xác minh cấp giấy xác nhận nạn nhân cho họ.
Tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 09/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống mua bán người quy chế độ hỗ trợ nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại đối với nạn nhân bị mua bán người như sau:
“2. Chế độ hỗ trợ gồm:
a) Hỗ trợ tiền ăn trong thời gian tạm trú tại cơ sở bảo trợ, cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Thời gian hỗ trợ tối đa từ nguồn ngân sách nhà nước không quá 60 (sáu mươi) ngày;
b) Hỗ trợ quần áo, vật dụng sinh hoạt cá nhân cần thiết. Nạn nhân trong thời gian tạm trú tại cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân được cấp 02 (hai) bộ quần áo dài, 02 (hai) bộ quần áo lót, khăn mặt, dép nhựa, bàn chải, thuốc đánh răng, xà phòng, băng vệ sinh (đối với nạn nhân là nữ);
c) Nạn nhân có nguyện vọng trở về nơi cư trú nhưng không có khả năng chi trả tiền tàu xe và tiền ăn trong thời gian đi đường thì được hỗ trợ tiền ăn trong những ngày đi trên đường; hỗ trợ tiền tàu xe theo giá phương tiện công cộng phổ thông.”
Như vậy, theo quy định này thì chị M cần đến UBND cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi gần nhất khai báo về việc bị mua bán. UBND cấp xã có trách nhiệm thông báo ngay với Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện để giải quyết theo thẩm quyền; Trong trường hợp cần thiết, UBND xã có thể thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu và Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội hỗ trợ chi phí đi lại cho chị M theo quy định nêu trên. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 37, Điều 38 của Luật phòng, chống mua bán người thì khi chị M trở về địa phương nếu chị thuộc hộ nghèo thì được xem xét hỗ trợ học nghề, hỗ trợ một lần tiền trợ cấp khó khăn ban đầu và vay vốn để sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, Đối với hành vi của chị H: Theo quy định tại Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về Tội mua bán người thì:
“1. Người nào mua bán người thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm:
a) Vì mục đích mại dâm;
b) Có tổ chức;
c) Có tính chất chuyên nghiệp;
d) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
đ) Để đưa ra nước ngoài;
e) Đối với nhiều người;
g) Phạm tội nhiều lần;
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.”
Như vậy, hành vi của chị H đã cấu thành tội mua bán người, quy định tại điểm đ khoản 2 của Điều 119 nêu trên. Với hành vi phạm tội này, chị H sẽ có thể bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm. Ngoài ra, chị H còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.
Admin Admin Admin