Vợ chồng chị Minh kết hôn đã lâu nhưng chưa có con. Sau một thời gian chữa chạy tại các bệnh viện, chị Minh được kết luận là không có khả năng sinh nở. Chị Hà là chị gái của chị Minh, thấy hoàn...
Chị Hà làm công việc nội trợ ở nhà, còn chị Minh là giáo viên làm việc theo Hợp đồng không xác định thời hạn tại một trường tiểu học trên huyện. Sau thời điểm chị Hà sinh con và nuôi dưỡng, chăm sóc em bé được 02 tháng thì chị đã trao con cho em gái. Vậy xin hỏi, chị Minh có được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật dành cho người mẹ nhờ mang thai hộ hay không? Thời điểm được tính để hưởng chế độ thai sản được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
- Theo Khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
“a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
c) Cán bộ, công chức, viên chức;
d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
e) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
g) Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
h) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
i) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn”.
- Điều 30 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy đối tượng áp dụng chế độ thai sản là “ Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 của Luật này”.
- Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ như sau:
“1. Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khi sinh con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt quá thời gian quy định của pháp luật (Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng). Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
2. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
3. Chi tiết chế độ thai sản, thủ tục hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ do Chính phủ quy định”.
Như vậy, đối chiếu với các quy định của pháp luật thì chị Minh được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con (02 tháng) cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi, tổng cộng là 04 tháng.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh