Vừa qua, tôi lái xe ô tô con đi đến từ bên phải đến giữa ngã tư đường (không có biển báo hiệu đi theo vòng xuyến) thì bị anh A đi xe máy với tốc nhanh lao đến tông ngang xe của tôi và ngã văng...
Cú đâm của anh A làm móp méo sườn xe của tôi. Thời điểm đâm vào xe của tôi hơi thở của anh A nồng lặc mùi bia rượu và không đội mũ bảo hiểm. Xin hỏi, anh A sẽ bị xử phạt như thế nào? Trách nhiệm bồi thường thiệt hại như thế nào khi gây hư hỏng xe ô tô của tôi?
Trả lời:
Điều 24 Luật Giao thông đường bộ quy địnhh về nhường đường tại nơi đường giao nhau như sau:
“Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:
1. Tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi đến từ bên phải;
2. Tại nơi đường giao nhau có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi bên trái;
3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới.”
Như vậy, với hành vi điều khiển xe máy đến gần đường giao nhau mà không giảm tốc độ, nhường đường theo quy định thì anh A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Cụ thể, tại điểm h, khoản 1, Điều 6 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định: “1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
…
h) Không tuân thủ các quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm b, điểm e khoản 2 Điều này;”
Ngoài việc bị phạt tiền, anh A còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm c, khoản 10, Điều 6, Nghị định số 100/2019/NĐ-CP: “Thực hiện hành vi quy định tại một trong các điểm, khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng.”
Về hành vi điều khiển xe máy trong tình trạng đã sử dụng rượu bia, anh A đã vi phạm điều cấm được quy định tại khoản 6, Điều 5 của Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia: “6. Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.”. Tuỳ theo mức độ vi phạm mà anh A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c, khoản 6; điểm c, khoản 7 và điểm e, khoản 8, Điều 6, cụ thể như sau:
“6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
…
c) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở.”
“7. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
…
c) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở.”
“8. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
…
e) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;”
Ngoài việc bị phạt tiền nêu trên, anh A còn có thể bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm đ, e, g, khoản 10, Điều 6, Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, cụ thể như sau:
“đ) Thực hiện hành vi quy định tại điểm c khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 10 tháng đến 12 tháng;”
“e) Thực hiện hành vi quy định tại điểm c khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 16 tháng đến 18 tháng;”
“g) Thực hiện hành vi quy định tại điểm e, điểm g, điểm h, điểm i khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng.”
Về hành vi không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, anh A có thể bị phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng theo quy định tại điểm n, khoản 3, Điều 6, Nghị định số 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP):“n) Không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ;”.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của anh A khi gây hư hỏng xe ô tô của bạn: Theo quy định tại khoản 1, Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Khoản 1, Điều 585 của Bộ luật này quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Như vậy, với hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ (không giảm tốc độ và nhường đường) gây hư hỏng xe ô tô của bạn thì anh A sẽ phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự. Việc xác định thiệt hại về tài sản bị xâm phạm được quy định tại Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cụ thể như sau:
“Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
4. Thiệt hại khác do luật quy định.”
Nguyễn Tuân
Nguyễn Sỹ Tuấn