Vợ chồng ông T và bà H kết hôn năm 1990 có ba người con chung là X (sinh 1991), Y (sinh 1993) và Z (sinh 1996). Năm 2000 do mâu thuẫn vợ chồng nên ông T bỏ vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và...
như vợ chồng với bà O, có con chung là P (sinh 2002). Tài sản chung của ông T và bà H là 1.5 tỷ, tài sản chung của ông T và bà O là 500 triệu. X kết hôn 2020, có một con là Y (sinh 2020). Năm 2021 X chết, năm 2022 ông T chết. Đề nghị cho biết: Trong trường hợp ông T chết không để lại di chúc thì tài sản của ông T được chia như thế nào?
Trả lời:
- Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
- Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định di sản “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
- Điều 649 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định thừa kế theo pháp luật như sau: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.
- Điều 650 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật
“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.
- Điều 651 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế theo pháp luật như sau:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
- Điều 652 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định thừa kế thế vị như sau:
Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết như sau:
1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 nêu trên, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác”
Như vậy, trước hết cần xác định số tài sản mà ông T sở hữu. Theo những thông tin đã nêu thì tài sản chung của ông T và bà H là 1.5 tỷ, tài sản chung của ông T và bà O là 500 triệu. Do đó, tổng tài sản của ông T bao gồm ½ số tài sản chung của ông T và bà H cộng với 1/2 số tài sản chung của ông T và bà O, cụ thể là 750 triệu + 205 triệu = 1 tỷ.
Trường hợp ông T chết không để lại di chúc thì việc chia di sản sẽ tiến hành theo quy định của Bộ luật dân sự 2015. Ông T có quan hệ hôn nhân với bà H và quan hệ này vẫn còn tồn tại kể cả trong trường hợp ông T và bà H không còn chung sống nên bà H được hưởng thừa kế. Ông T sống chung với bà O như vợ chồng nhưng quan hệ này không được pháp luật bảo vệ và công nhận nên bà O không được hưởng thừa kế. Như vậy, những người được hưởng thừa kế bao gồm: H, X, Y, Z và P; những người này cùng thuộc hàng thừa kế đầu tiên và hưởng phần di sản bằng nhau. Mỗi người được hưởng 1 tỷ/5= 200 triệu. Do X đã chết trước ông T nên quyền thừa kế của X chuyển cho con làY theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự 2015.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh