Anh B đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau. Vừa qua, anh B đến UBND xã nơi anh có hộ khẩu thường trú hiện tại xin xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với chị C ở xã bên
hi được UBND xã cho phép cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình thì anh B đã viết bản cam đoan rằng anh chưa đăng ký kết hôn với ai và được UBND xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Tuy nhiên, khi anh B đang làm thủ tục đăng ký kết hôn với chị C ở xã bên thì bất ngờ chị N là vợ hợp pháp của anh B đến tố giác hành vi gian dối của chồng khi anh ta đang có vợ nhưng lại cam đoan là chưa đăng ký kết hôn với ai. Xin hỏi, hành vi cam đoan không đúng sự thật về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn của anh B sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Điều 5, Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/05/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch về trách nhiệm, hệ quả của việc cam đoan không đúng sự thật như sau:
“1. Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch thì cơ quan đăng ký hộ tịch phải giải thích rõ cho người lập văn bản cam đoan về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật.
2. Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật.”
Đối với trường hợp anh B cố tình cam đoan không đúng sự thật về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Theo đó, tại điểm b, khoản 2, Điều 38 của Nghị định quy định: “2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) …
b) Cung cấp thông tin, tài liệu hoặc cam đoan, làm chứng sai sự thật về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn.”
Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 4, Điều 38, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP: “Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy chứng nhận kết hôn đã cấp do có hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.”
Nguyễn Đạt
Nguyễn Sỹ Tuấn