Thay đổi thông tin cá nhân có phải làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thắc mắc rất phổ biến của người sử dụng đất

Việc thay đổi thông tin cá nhân (như họ tên, số CMND/CCCD, địa chỉ...) có dẫn đến việc phải làm lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không là thắc mắc pháp lý phổ biến của nhiều người dân. Nếu không nắm rõ quy định, người sử dụng đất có thể thực hiện sai trình tự, gây lãng phí thời gian và chi phí. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp các căn cứ pháp luật cụ thể để làm rõ vấn đề này.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT, các thông tin cơ bản về người sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được thể hiện tại Trang 1 của Giấy chứng nhận bao gồm:
Khi các thông tin nêu trên có sự biến động (ví dụ: thay đổi số Chứng minh nhân dân sang Căn cước công dân, thay đổi họ tên do quyết định của cơ quan có thẩm quyền...), người sử dụng đất không nhất thiết phải thực hiện thủ tục cấp mới hoàn toàn Giấy chứng nhận.
Căn cứ Điều 85 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, khi người sử dụng đất có sự thay đổi về thông tin cá nhân, họ phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất. Nói cách khác, cơ quan nhà nước sẽ thực hiện việc chỉnh lý, cập nhật nội dung thay đổi vào trang bổ sung hoặc trang 4 của Giấy chứng nhận đã cấp thay vì bắt buộc làm lại sổ mới.
Để hiểu rõ hơn về các trường hợp tương tự liên quan đến quyền sở hữu, bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Hướng dẫn thay đổi thông tin cá nhân có phải làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ Khoản 4 Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, khi thực hiện đăng ký biến động do thay đổi thông tin về người được cấp Giấy chứng nhận (đổi tên, giấy tờ nhân thân, địa chỉ), hồ sơ bao gồm:
Căn cứ Khoản 1 và Khoản 2 Điều 85 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, quy trình thực hiện tại Văn phòng đăng ký đất đai được tiến hành như sau:
Việc nắm vững quy trình này giúp người dân chủ động trong việc cập nhật thông tin pháp lý, đảm bảo quyền lợi hợp pháp đối với tài sản của mình và tránh các rủi ro tranh chấp phát sinh sau này.