Cầm cố và thế chấp là hai trong số các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 số 91/2015/QH13. Hai biện pháp này có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng khác nhau cơ bản. Bài viết giúp bạn phân biệt thế chấp và cầm cố qua các tiêu chí pháp lý quan trọng.
Điểm giống nhau giữa thế chấp và cầm cố
- Đều là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đều phát sinh trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, nhằm bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ (thường là nghĩa vụ trả nợ).
- Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch.
- Đều có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ/chiếm giữ tài sản theo luật định.
- Khi đến hạn mà nghĩa vụ không được thực hiện, bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản để thu hồi nghĩa vụ.
Điểm khác nhau giữa thế chấp và cầm cố
1. Về khái niệm
Theo Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015, cầm cố tài sản là việc một bên (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Theo Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015, thế chấp tài sản là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà không giao tài sản cho bên kia (bên nhận thế chấp).
2. Về việc chuyển giao tài sản
- Cầm cố: có sự chuyển giao tài sản bảo đảm từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố nắm giữ.
- Thế chấp: không chuyển giao tài sản; bên thế chấp tiếp tục giữ tài sản (hoặc giao cho người thứ ba giữ theo thỏa thuận), chỉ chuyển giao các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nếu có thỏa thuận.
3. Về đối tượng tài sản
- Cầm cố: thường là động sản, hoặc giấy tờ có giá có thể chuyển giao trên thực tế.
- Thế chấp: có thể là động sản hoặc bất động sản, tài sản hình thành trong tương lai. Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản đang được dùng để thế chấp; khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp. Nếu bên nhận thế chấp không thông báo, tổ chức bảo hiểm chi trả theo hợp đồng và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền bảo hiểm cho bên nhận thế chấp.
4. Về hiệu lực đối kháng với người thứ ba
- Cầm cố: hiệu lực đối kháng với người thứ ba phát sinh từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố; trường hợp bất động sản là đối tượng cầm cố thì phát sinh từ thời điểm đăng ký.
- Thế chấp: hiệu lực đối kháng với người thứ ba phát sinh từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm.
5. Về quyền và nghĩa vụ của các bên
Do cầm cố có sự chuyển giao tài sản, bên nhận cầm cố có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản và không được sử dụng, cho thuê, cho mượn nếu không có thỏa thuận. Trong thế chấp, bên thế chấp vẫn giữ và khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản nhưng không được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp trừ trường hợp được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.
6. Về chấm dứt biện pháp bảo đảm
Cả cầm cố và thế chấp đều chấm dứt khi: nghĩa vụ được bảo đảm chấm dứt; việc cầm cố, thế chấp được hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác; tài sản đã được xử lý; hoặc theo thỏa thuận của các bên. Khi chấm dứt cầm cố, bên nhận cầm cố phải trả lại tài sản và giấy tờ liên quan cho bên cầm cố.
Việc phân biệt rõ thế chấp và cầm cố giúp các bên lựa chọn biện pháp bảo đảm phù hợp với loại tài sản và nhu cầu giao dịch, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi phát sinh tranh chấp.
Xem thêm các chủ đề khác