Để giải đáp thắc mắc về mức sử phạt đối với người không đủ tuổi lái xe Legalzone xin gửi tới các bạn bài tư vấn sau:
Việc điều khiển xe mô tô, xe gắn máy khi chưa đảm bảo các điều kiện về độ tuổi là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ. Theo quy định tại Luật Giao thông đường bộ 2008, người lái xe phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về sức khỏe và độ tuổi tương ứng với loại phương tiện điều khiển.
Căn cứ theo Điều 60 Luật Giao thông đường bộ 200 chế độ về độ tuổi của người lái xe được quy định cụ thể như sau:
Như vậy, đối với các dòng xe máy có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên, người điều khiển bắt buộc phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới được coi là hợp lệ về mặt pháp lý.
Khi phát hiện cá nhân điều khiển phương tiện không đáp ứng đủ độ tuổi theo quy định, cơ quan chức năng sẽ áp dụng hình thức xử phạt dựa trên nhóm tuổi của người vi phạm. Căn cứ vào Nghị định số 100/2019/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, mức phạt được xác định như sau:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (bao gồm cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo sẽ bị áp dụng hình thức phạt cảnh cáo.
Đối với nhóm đối tượng này, nếu điều khiển xe mô tô có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên, mức phạt tiền được quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP là từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng.
Một vấn đề thường gặp là liệu người chưa đủ tuổi lái xe có bị tạm giữ phương tiện (thường gọi là giam xe) hay không? Căn cứ Khoản 1 Điều 82 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện tối đa đến 07 ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với các trường hợp vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới.
Cụ thể, hành vi điều khiển xe máy khi chưa đủ tuổi nằm trong danh mục các lỗi có thể bị tạm giữ phương tiện theo Điểm i Khoản 1 Điều 82. Ngoài ra, trong các trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo thi hành quyết định xử phạt, việc tạm giữ vẫn có thể được thực hiện sau khi đã có quyết định chính thức.
Không chỉ người trực tiếp cầm lái, chủ sở hữu phương tiện cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu để người không đủ điều kiện tham gia giao thông. Căn cứ Điểm đ Khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, mức phạt đối với hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện (bao gồm cả trường hợp chưa đủ tuổi) như sau:
Đáng chú ý, nếu việc giao xe cho người không đủ điều kiện dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, chủ xe có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự.
Đối với nhóm đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, việc xử lý hành chính cần tuân thủ các nguyên tắc nhân văn của pháp luật. Căn cứ Khoản 3 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020), việc áp dụng hình thức xử phạt đối với người chưa thành niên phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi phạm. Đặc biệt, đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, pháp luật quy định không áp dụng hình thức phạt tiền mà chỉ áp dụng hình thức cảnh cáo.
Trong trường hợp gặp các vấn đề phức tạp liên quan đến việc thực hiện quyền lợi hoặc tranh chấp về quyết định xử phạt, người dân có thể tìm hiểu thêm về Thủ tục hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.