Xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định như thế nào? Bằng bài viết dưới đây Legalzone xin được trình bày và phân tích cụ thể như sau
Trong hoạt động kinh doanh và sáng tạo, việc bảo hộ các thành quả trí tuệ là yếu tố sống còn. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại nhiều hành vi xâm phạm gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của chủ sở hữu. Vậy theo quy định pháp luật hiện hành (tại thời điểm năm 2021), việc xử lý các hành vi vi phạm quyền sở dụng trí tuệ được thực hiện như thế nào và trình tự ra sao?
Để một hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, cần phải đáp ứng đầy đủ các căn cứ pháp lý theo quy định tại Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP. Cụ thể bao gồm:
Đối tượng bị nghi ngờ phải thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Theo Điều 3 Nghị định 105/2006/NĐ-CP, đối tượng bị xem xét là thực thể bị nghi ngờ nhằm đưa ra kết luận có phải là đối tượng xâm phạm hay không. Việc xác định này cần dựa trên các căn cứ về đối tượng được bảo hộ tại Điều 6 của cùng Nghị định.
Yếu tố xâm phạm là những thành phần, bộ phận hoặc đặc tính được tạo ra từ hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Các quy định chi tiết về việc xác định yếu tố này được hướng dẫn cụ thể từ Điều 7 đến Điều 14 của Nghị định 105/2006/NĐ-CP.
Hành vi xâm phạm phải được thực hiện bởi đối tượng không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, cũng không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng đối tượng đó. Các quy định về giới hạn quyền và sự cho phép được nêu rõ tại các Điều 25, 26, 32, 33... của Luật Sở hữu trí tuệ.
Hành vi xâm phạm phải xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Nếu hành vi không diễn ra trong phạm vi lãnh thổ nước ta thì không được xem xét là hành vi xâm phạm theo quy định pháp luật Việt Nam. Một hành vi chỉ bị coi là vi phạm khi hội tụ đủ cả 4 căn cứ nêu trên; nếu thiếu bất kỳ yếu tố nào, hành vi đó không cấu thành sự xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi, tổ chức hoặc cá nhân vi phạm có thể bị áp dụng một trong ba hình thức xử lý sau:
Về thẩm quyền, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự và hình sự. Trong khi đó, các cơ quan như Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an và Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý bằng biện pháp hành chính và kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ.
Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn (chủ thể quyền) và bị đơn có nghĩa vụ chứng minh các tình tiết liên quan. Để bảo vệ quyền lợi, chủ thể cần lưu ý các loại chứng cứ sau:
Đặc biệt, khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại, nguyên đơn có trách nhiệm chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và đưa ra căn cứ xác định mức bồi thường theo Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ.
Thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được chia thành hai loại chính:
Mức bồi thường được xác định dựa trên tổn thất thực tế. Nếu nguyên đơn chứng minh được thiệt hại vật chất, Tòa án có thể quyết định mức bồi thường bao gồm tổng thiệt hại cộng với khoản lợi nhuận mà bên vi phạm thu được hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng tương ứng. Trong trường hợp không thể xác định chính xác số liệu, Tòa án sẽ ấn định mức bồi thường nhưng không quá 500 triệu đồng. Đối với thiệt hại tinh thần, mức bồi thường dao động từ 5 triệu đến 50 triệu đồng. Ngoài ra, bên vi phạm còn phải thanh toán chi phí thuê luật sư hợp lý cho nguyên đơn.
Để ngăn chặn hậu quả đáng tiếc, chủ thể quyền có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có căn cứ cho thấy: đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại không thể khắc phục; hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm hoặc chứng cứ liên quan có nguy cơ bị tẩu tán, tiêu hủy. Việc áp dụng này giúp bảo vệ kịp thời các đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và các tài sản trí tuệt khác trước khi vụ án được giải quyết xong.
Việc hiểu rõ thế nào là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và các quy định về bồi thường sẽ giúp các chủ thể tự tin hơn trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của mình trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường.