Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, việc phân biệt rõ ràng giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả là vô cùng quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý cũng như các quyền lợi liên quan. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2009 (tại thời điểm năm 2021), hai khái niệm này có những đặc điểm riêng biệt về nguồn gốc hình thành và phạm vi quyền hạn.
Khái niệm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả
Căn cứ theo các quy định tại Điều 13 và Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ 2009, khái niệm về hai chủ thể này được xác định như sau:
- Tác giả: Là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Đối tượng được công nhận là tác giả bao gồm: Các tổ chức, cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Các tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa từng được công bố ở bất kỳ quốc gia nào khác; hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong vòng 30 ngày kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên tại nước ngoài. Các tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam dựa trên các điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt quyết định là thành viên.
- Chủ sở hữu quyền tác giả: Là cá nhân hoặc tổ chức nắm giữ một phần, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản liên quan đến tác phẩm. Điểm đặc trưng của chủ sở hữu là họ có thể là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm hoặc không trực tiếp sáng tạo nhưng được thừa nhận quyền sở hữu thông qua các hình thức pháp lý khác.
Điểm giống nhau giữa tác giả và chủ sở hữu
Về bản chất pháp lý, cả tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đều là những chủ thể được pháp luật bảo hộ quyền tác giả và quyền tác giả theo quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam. Sự tồn tại của hai chủ thể này tạo nên nền tảng để hình thành nên các giao dịch dân sự như chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan hoặc các hình thức khai thác thương mại tác phẩm.
Phân biệt tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả
Để hiểu rõ hơn về sự khác biệt giữa hai chủ thể này, chúng ta cần xem xét dựa trên các tiêu chí về phân loại và phạm vi quyền được bảo hộ:
Về phân loại chủ thể
- Đối với Tác giả: Có thể phân loại dựa trên nhiều khía cạnh: Dựa vào số lượng người sáng tạo: Gồm tác giả đơn nhất hoặc đồng tác giả. sau khi nghiên cứu thủ tục đăng ký quyền tác giả mới nhất, có thể thấy sự khác biệt về nguồn gốc như: tác giả tác phẩm gốc và tác giả tác phẩm phái sinh. Dựa vào mối quan hệ lao động: Có trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu và trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu.
- Đối với Chủ sở hữu quyền tác giả: Bao gồm các nhóm đối tượng sau: Chủ sở hữu chính là tác giả hoặc các đồng tác giả. Cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả để tạo ra tác phẩm. Cá nhân, tổ chức thông qua việc giao kết hợp đồng với tác giả. Người được thừa kế quyền tác giả theo quy định pháp luật. Người được chuyển giao quyền (người nhận chuyển nhượng). Nhà nước (trong các trường hợp đặc biệt theo quy định).
Về phạm vi các quyền được bảo hộ
Sự khác biệt lớn nhất nằm ở việc nắm giữ quyền nhân thân và quyền tài sản:
- Trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu: Tác giả chỉ có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ (như đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh...) và một phần các quyền tài sản nhất định.
- Trường hợp chủ sở hữu là tác giả (hoặc đồng tác giả): Chủ thể này nắm giữ đầy đủ cả quyền nhân thân (theo Điều 19) và các quyền tài sản (theo Điều 20) của tác phẩm.
- Trường hợp chủ sở hữu không phải là tác giả (tổ chức giao nhiệm vụ, người thừa kế, người nhận chuyển nhượng...): Các chủ thể này nắm giữ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 và một số quyền nhân thân cụ thể tại Khoản 3 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ.
Việc xác định chính xác vai trò của tác giả và chủ sở hữu là tiền đề quan trọng để thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến việc bảo hộ và khai thác quyền lợi hợp pháp đối với các loại hình tác phẩm khác nhau.
Xem thêm các chủ đề khác