Đối với mỗi người sáng tạo, tác phẩm không chỉ là một sản phẩm trí tuệ đơn thuần mà còn là thành quả của quá trình lao động miệt mài, mang giá trị to lớn về cả tinh thần lẫn vật chất. Do đó, việc hiểu rõ các quy định pháp luật về quyền tác giả theo quy định của pháp luật hiện hành là vô cùng cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Tại thời điểm năm 2021, các vấn đề này được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Căn cứ phát sinh quyền tác giả
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), căn cứ xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm được quy định như sau:
- Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định.
- Việc bảo hộ không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện hay ngôn ngữ của tác phẩm.
- Pháp luật cũng không phân biệt tác phẩm đó đã được công bố hay chưa công bố, đã thực hiện đăng ký hay chưa đăng ký.
Như vậy, quyền tác giả phát sinh theo cơ chế tự động. Ngay khi một tác phẩm được hình thành dưới một dạng vật chất nhất định (như văn bản, bản vẽ, tệp âm thanh...), nó đã mặc nhiên được pháp luật bảo hộ mà không bắt buộc phải thực hiện các thủ tục hành chính phức tạp.
Các loại quyền trong quyền tác giả
Theo Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả bao gồm hai nhóm quyền chính: Quyền nhân thân và Quyền tài sản. Tùy vào vai trò của cá nhân hay tổ chức mà quy định về tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả sẽ có sự khác biệt cụ thể.
Quyền nhân thân
Căn cứ Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân bao gồm:
- Đặt tên cho tác phẩm.
- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phục; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.
- Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, ngăn chặn các hành vi sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Quyền tài sản
Căn cứ Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tài sản bao gồm các quyền khai thác giá trị kinh tế từ tác phẩm như:
- Làm tác phẩm phái sinh (chuyển thể, dịch thuật...).
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng.
- Sao chép tác phẩm dưới các hình thức khác nhau.
- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.
- Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác.
- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao đối với tác phẩm điện ảnh và chương trình máy tính.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
Để cân bằng giữa lợi ích của người sáng tạo và lợi ích chung của cộng đồng, pháp luật quy định thời hạn bảo hộ có giới hạn nhất định. Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):
- Đối với quyền nhân thân: Các quyền tại Khoản 1, 2 và 4 Điều 19 (như đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn) được bảo hộ vô thời hạn.
- Đối với các quyền khác: Quyền nhân thân tại Khoản 3 Điều 19 (quyền công bố) và các quyền tài sản tại Điều 20 có thời hạn cụ thể: Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng và tác phẩm khuyết danh: Bảo hộ 75 năm kể từ khi công bố lần đầu. Nếu chưa được công bố trong vòng 25 năm kể từ khi định hình, thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi định hình. Các loại hình tác phẩm khác: Bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả qua đời. Trường hợp có đồng tác giả, thời hạn này tính từ năm thứ 50 sau khi người đồng tác giả cuối cùng chết.
- Thời hạn bảo hộ sẽ kết thúc vào lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm cuối cùng của thời hạn quy định.
Các hành vi xâm phạm quyền tác giả
Để đảm bảo tính nghiêm minh, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ liệt kê các hành vi bị coi là xâm phạm quyền tác giả, bao gồm nhưng không giới hạn ở:
- Chiếm đoạt quyền tác giả hoặc mạo danh tác giả.
- Công bố, phân phối tác phẩm mà không được sự cho phép của tác giả hoặc đồng tác giả.
- Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm gây tổn hại đến uy tín của tác giả.
- Sao chép, làm tác phẩm phái sinh hoặc sử dụng tác phẩm mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả và không thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ tài chính (như nhuận bút, thù lao).
- Cố ý hủy bỏ hoặc vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật bảo vệ quyền tác giả; xóa hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử.
- Sản xuất, phân phối thiết bị nhằm mục đích vô hiệu hóa các biện pháp bảo vệ quyền của chủ sở hữu.
Việc nắm vững các quy định này giúp các cá nhân và tổ chức tự bảo vệ tài sản trí tuệ của mình, đồng thời tránh các rủi ro pháp lý khi sử dụng tác phẩm của người khác. Trong trường hợp cần xác lập quyền một cách chính thức để dễ dàng thực hiện chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan, các chủ thể có thể tìm hiểu thêm về các thủ tục hành trợ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.