Quy định mới về biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính
Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là một trong các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính. Bài viết trình bày quy định về việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính, căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và nghị định hướng dẫn đang có hiệu lực ở thời điểm bài viết.
Theo Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong các trường hợp thật cần thiết sau đây:
Người có thẩm quyền tạm giữ phải lập biên bản về việc tạm giữ. Biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ và có chữ ký của người tổ chức thực hiện việc tạm giữ, người vi phạm. Mọi tang vật, phương tiện bị tạm giữ phải được quản lý, bảo quản theo Nghị định 115/2013/NĐ-CP về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính.
Theo khoản 8 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được quy định:
Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện bị tạm giữ thực tế. Thời hạn tạm giữ không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 66 của Luật.
Khi hết thời hạn tạm giữ mà người vi phạm đã chấp hành xong quyết định xử phạt, hoặc khi tang vật, phương tiện không còn cần thiết cho việc xử lý vi phạm, người có thẩm quyền phải ra quyết định trả lại tang vật, phương tiện đã tạm giữ. Việc trả lại phải được lập thành biên bản, có chữ ký của các bên liên quan.